Trong một thị trường cạnh tranh không hoàn hảo, để tồn tại và phát triển thì việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là một yếu tố cân nhắc hàng đầu của ngân hàng thương mại (NHTM). Việc nâng cao hiệu quả kinh doanh ngân hàng chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, do vậy bản thân NHTM cần phải xác định được các nhân tố ảnh hưởng đó, xác định được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó đến hiệu quả kinh doanh của mình. Qua đó, NHTM mới có thể đưa ra những quyết định để hạn chế những rủi ro trong hoạt động, đồng thời gia tăng được việc bảo toàn vốn, gia tăng thu nhập và lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của mình. Qua một thời gian dài nghiên cứu, nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của NHTM được chia thành hai nhóm chính, là: nhóm nhân tố khách quan và nhóm nhân tố chủ quan.

1. Các nhân tố khách quan

* Môi trường kinh tế, chính trị và xã hội trong và ngoài nước

Ngân hàng thương mại là một chủ thể trung gian tài chính thực hiện hai hoạt động chủ yếu là huy động và phân bổ nguồn vốn cho nền kinh tế, có mối quan hệ kinh tế với tất cả các chủ thể trong nền kinh tế, nên trong quá trình hoạt động các NHTM không thể tách rời được với môi trường kinh tế, chính trị và xã hội. Hoạt động của các NHTM không chỉ chịu ảnh hưởng bởi yếu tố môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong nước mà còn bị ảnh hưởng bởi môi trường quốc tế. Môi trường quốc tế ảnh hưởng lớn đến nhà đầu tư nước ngoài cũng như thị trường tiền tệ quốc tế.

Môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo một môi trường hoạt động thuận lợi cho các NHTM, đảm bảo cho khả năng huy động và phân bổ nguồn vốn của NHTM được diễn ra dễ dàng với một mức nợ xấu thấp. Ngược lại, trong một môi trường kinh tế, chính trị và xã hội bất ổn sẽ là cho hoạt động của các NHTM dễ phải đối mặt với một tỷ lệ nợ xấu cao, khả năng cung ứng vốn ra trong nền kinh tế giảm mạnh.

Môi trường kinh tế, chính trị và xã hội sẽ tác động tới niềm tin của dân cư, giá trị của đồng tiền, ảnh hưởng tới điều hành chính sách của chính phủ, tới tâm lý của nhà đầu tư. Từ đây tác động tới các hoạt động về gửi tiền gửi tiết kiểm tại ngân hàng của người dân, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, thu nhập của người lao động, nhu cầu tiêu dùng và thị trường hàng hóa. Như vậy môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ giúp ngân hàng mở rộng cung ứng dịch vụ (thanh toán, bảo lãnh, tư vấn,…) và nâng cao được chất lượng tín dụng của mình. Ngược lại, khi môi trường bất ổn sẽ gây khó khăn lên cho các tác nhân của nền kinh tế, hoạt động tín dụng của ngân hàng sẽ bị sụt giảm nghiêm trọng.

* Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý được cấu tạo bởi hệ thống luật, các văn bản dưới luật, việc chấp hành luật cũng như trình độ dân trí. Điều đó cho thấy rằng môi trường pháp lý có ảnh hưởng rất lớn đến việc điều hành nền kinh tế thị trường. Một môi trường pháp lý hoàn thiện cho phép phát triển kinh tế thị trường mà không phải đối mặt với bất cứ một rào cản lớn nào. Tuy nhiên, đây là một điểm yếu của Việt Nam, một thị trường đang phát triển với một môi trường pháp lý chưa được hoàn thiện, đầy đủ. Do đó, để tạo ra đường cơ sở cho hệ thống NHTM có thể phát triển mạnh và ổn định, Việt Nam cần phải tạo ra một môi trường pháp lý hoàn chỉnh để qua đó có thể giúp NHTM nói riêng, các chủ thể trong nền kinh tế nói chung giải quyết được những mâu thuẫn trong quá trình hoạt động của mình.

Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tín dụng, tiền tệ, do vậy phải chịu sự kiểm soát rất chặt chẽ từ nhiều phía: Ngân hàng trung ương, Bộ, ngành có liên quan. Các yếu tố được kiểm soát của NHTM như: cạnh tranh, phá sản, sáp nhập, cơ cấu tổ chức, nợ xấu,… Bên cạnh việc chịu sự kiểm soát, NHTM còn phải đảm bảo tuân thủ theo pháp luật và chính sách trong hoạt động kinh doanh của mình, về: đảm bảo thanh khoản, tỷ lệ an toàn vốn, hoạt động tiền gửi, hoạt động cho vay, và thanh toán,…. Từ đây cho thấy rằng môi trường pháp lý ảnh hưởng trực tiếp tới việc xây dựng chiến lược cũng như thực thi hoạt động kinh doanh của các NHTM.

* Mức độ phát triển của nền kinh tế

Hoạt động của NHTM chịu ảnh hưởng rất lớn bởi sự phát triển của nền kinh tế thế giới, khu vực và của từng quốc gia. Đặc biệt sự ảnh hưởng được thể hiện qua sự phát triển của thị trường chứng khoán và sự tăng tưởng của GDP.

Khi một quốc gia có sự tăng trưởng GDP lớn cho thấy rằng nguồn vốn các chủ thể có thể huy động và cung ứng trên thị trường sẽ gia tăng theo. Với tư cách là một trung gian tài chính trên thị trường, đặt trong bối cảnh đó sẽ kéo theo hiệu quả kinh doanh của các NHTM gia tăng cùng chiều. Ngược lại khi các nước có sự suy thoái về kinh tế, sụt giảm về GDP sẽ làm cho hiệu quả kinh doanh tín dụng và thanh toán của NHTM giảm, dẫn tới sự giảm trong hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng.

Bên cạnh đó, thị trường chứng khoán là một trong những kênh giúp các ngân hàng thương mại có thể gia tăng được nguồn vốn huy động của mình trong quá tình hoạt động. Khi thị trường chứng khoán phát triển tạo tiền đề cho các ngân hàng thương mại dễ dàng tiếp cận được với nguồn vốn của các chủ thể. Ngược lại, khi thị trường chứng khoán kém phát triển hoặc có dấu hiệu sụt giảm, hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng cũng theo đó xấu đi.

* Thu nhập của người dân

Một trong những nguồn huy động vốn đang có xu hướng gia tăng của các NHTM đến từ người dân nhỏ lẻ. Khi những chủ thể này có thu nhập gia tăng đồng nghĩa với sự gia tăng về nhu cầu dịch vụ về tiền gửi, về thanh toán. Từ đó tạo điều kiện cho các NHTM đẩy mạnh cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cung ứng cho những người dân, hộ gia đình trong thị trường. Tuy nhiên, khi nguồn thu nhập của bộ phận này giảm xuống sẽ dẫn tới một sự khó khăn trong huy động vốn của các NHTM, ảnh hưởng tới khả năng cung ứng vốn của ngân hàng ra trên thị trường. Mặc dù huy động nguồn vốn từ hộ gia đình, người dân không phải là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất, nhưng đây là một trong những nguồn huy động chính của các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước.

* Tập quán xã hội

Hoạt động của NHTM gắn liền với niềm tin của người dân, gắn liền với sự đa dạng về đối tượng khách hàng. Có thể nói rằng, tập quán xã hội của từng quốc gia, khu vực sẽ ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của ngân hàng. Thói quen sử dụng các dịch vụ công nghệ cao của ngân hàng (thanh toán không dùng tiền mặt) và vay phục vụ tiêu dùng đã trở nên phổ biến tại các quốc gia phát triển, nhưng những sản phẩm và dịch vụ này còn khác mới là tại các quốc gia đang và chậm phát triển. Thêm vào đó, người dân tại các nước đang và chậm phát triển còn khá lạ với những dịch vụ công nghệ cao.

Ví dụ tại Việt Nam, phần lớn dân số sống ở nông thôn và miền núi, khả năng tiếp cận với dịch vụ, sản phẩm của ngân hàng là thấp; thậm chí một lượng người không nhỏ sống ở đô thị nhưng từ chối sử dụng các dịch vụ công nghệ cao (như thanh toán không dùng tiền mặt) mà theo thói quen vẫn sử dụng thanh toán bằng tiền mặt. Một thói quen nữa của người dân tại các nước đang và chậm phát triển đó là thói quen tích trữ tiền mặt, vàng tại nhà. Từ đó, các hoạt động bán lẻ của các NHTM tại các nước phát triển sẽ diễn ra với tốc độ cao hơn so với các ngân hàng tại các nước đang và chậm phát triển, thu nhập từ các khoản này giữa các quốc gia cũng sẽ chênh lệch lớn.

* Sự phát triển của khoa học công nghệ

Sự phát triển của khoa học công nghệ ảnh hưởng trực tiếp tới sản phẩm, dịch vụ mà ngân hàng cung cấp ra cho nền kinh tế. Khoa học công nghệ phát triển tạo tiền đề cho các NHTM đa dạng được dịch vụ và sản phẩm công nghệ cao cho khách hàng, gia tăng tính an toàn và rút ngắn thời gian, giảm thiểu chi phí khi sử dụng các dịch vụ và sản phẩm đó. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (cách mạng 4.0) đang diễn ra trên toàn thế giới, hiệu quả kinh doanh của NHTM ở các quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ.

Đi cùng với sự phát triển công nghệ trên thế giới, trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence- AI) đang là trọng tâm phát triển của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển. AI được các NHTM sử dụng trong quản lý danh mục rủi ro, quản lý khách hàng và quản lý cơ sở dữ liệu trong ngân hàng mình. AI có khả năng tự thích nghi với tiềm năng không giới hạn và hiệu quả hơn so với con người đã tác động mạnh tới mô hình tổ chức, quản trị của các NHTM.

Khoa học công nghệ phát triển kéo theo sự phát triển của mạng thiết bị số, nơi các NHTM được kết nối với nhau qua các phần mềm máy tính thông qua mạng Internet. Từ đây cấu trúc của hệ thống ngân hàng thay đổi, đặc biệt trong việc cung cấp cá dịch vụ, sản phẩm công nghệ cao. Các hoạt động giao dịch thanh toán trực tuyến trong nội bộ ngân hàng hoặc liên ngân hàng phát triển mạnh với chi phí thấp, phần nào đáp ứng được nhu cầu của khách hàng trong giao dịch thanh toán, không còn bị phụ thuộc vào thời gian và không gian, địa điểm. Sự phát triển của công nghệ vô hình chung đã giúp NHTM mở rộng được mạng lưới hoạt động của mình theo kênh không truyền thống với chi phí hoạt động được tinh giảm đi rất nhiều. Từ đây cho thấy, khoa học công nghệ đã góp phần lớn trong gia tăng hiệu quả kinh doanh của các NHTM.

* Đối thủ cạnh tranh

Các NHTM hoạt động trong cùng một hệ thống trong một quốc gia, hoạt động dựa trên niềm tin của khách hàng, do vậy các NHTM vừa có sự cạnh tranh vừa có sự hỗ trợ lẫn nhau.

Các sản phẩm, dịch vụ do các NHTM cung cấp về bản chất không có sự khác biệt nhiều với nhau, chỉ có sự khác biệt về mức giá và kênh phân phối. Giá của sản phẩm, dịch vụ ngân hàng sẽ tạo ra sự khác biệt về thi phần hoạt động của ngân hàng. Những ngân hàng có giá sản phẩm và dịch vụ càng rẻ thì thị phần hoạt động của họ sẽ càng nhiều, hiệu quả kinh doanh gia twang, và ngược lại. Về phía kênh phân phối, các NHTM phân phối qua kênh truyền thống và kênh phân phối mới dựa trên sự phát triển của khoa học công nghệ (internet banking, mobile banking,…). Sự ra đời mới của kênh phân phối mới đã tạo điều kiện để khách hàng có thể tiếp cận được với dịch vụ, sản phẩm của các ngân hàng dễ dàng hơn với mức chi phí hợp lý hơn. Nói cách khác, yếu tố tạo nên sự cạnh tranh của các NHTM từ phía khách hàng đó là yếu tố về giá và kênh phân phối.

Ngoài sự cạnh tranh giữa các NHTM, họ còn có sự hỗ trợ lẫn nhau trong quá trình hoạt động, đặc biệt thông qua các khoản tiền gửi và cho vay qua thị trường liên ngân hàng. Sự hỗ trợ của các ngân hàng góp phần đảm bảo khả năng thanh khoản tức thời, giảm thiểu rủi ro cho các ngân hàng trong hoạt động tín dụng, đầu tư và hoạt động phi tín dụng. Có thể thấy rằng, sự hỗ trợ của các NHTM với nhau sẽ gia tăng khả năng sinh lời và an toàn thanh khoản cho họ, gia tăng hiệu quả kinh doanh của mình.

2. Các nhân tố chủ quan

* Năng lực tài chính của ngân hàng thương mại

Năng lực tài chính của NHTM được thể hiện qua ba khía cạnh, đó là: khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu, khả năng sinh lời, và khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro. Khả năng mở rộng nguồn vốn chủ sở hữu cho thấy rằng NHTM đó có bao nhiêu tiềm lực về vốn, khả năng huy động và cho vay là cao cao hay thấp, đầu tư tài chính và trình độ trang thiết bị mạnh hay không. Khả năng sinh lời của NHTM cho biết NHTM đó có thể thu được bao nhiêu từ một đồng vốn kinh doanh. Và khả năng phòng ngừa và chống đỡ rủi ro là nhân tố thể hiện khả năng bù đắp tổn thất trong rủi ro của NHTM, trong đó chủ yếu đến từ mối lo ngại về nợ xấu của hệ thống NHTM.

* Năng lực quản trị, điều hành

Năng lực quản trị, điều hành có liên quan đến cơ cấu tổ chức nhân sự của NHTM. Một NHTM có năng lực quản trị, điều hành cao khi họ có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý hợp lý, có một đội ngũ nhân viên với trình độ cao, có khả năng ứng biến tốt với sự biến động của thị trường, có năng suất sử dụng đầu vào tối thiểu để đạt được lượng đầu ra tối đa.

Một trong những năng lực quản trị mà NHTM cần ưu tiên thực hiện và lấy đó làm cơ sở để chống đỡ với những rủi ro mình có thể gặp phải khi thị trường có biến động là năng lực quản trị rủi ro. NHTM phải đối mặt với nhiều loại hình rủi ro với những mức độ đa dạng, ảnh hưởng mạnh tới hiệu quả của mình trong tương lai. Tuy nhiên, để thực hiện tốt được năng lực quản trị rủi ro, ngân hàng cần có sự chuẩn bị về mô hình tổ chức và cơ chế quản trị rủi ro; xác định được khung khẩu vị rủi ro; và xác định được quy trình quản trị rủi ro.

* Khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ

Trong quá trình ra đời và phát triển của NHTM, yếu tố khoa học công nghệ là một nhân tố rất quan trọng góp phần gia tăng thêm sản phẩm, dịch vụ ngân hàng cho nền kinh tế. Đặc biệt trong điều kiện phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin ngày nay, việc ứng dụng tiến bộ công nghệ trong hệ thống NHTM để làm đa dạng hóa các dịch vụ của mình sẽ làm gia tăng tính cạnh tranh của họ trong cuộc đua. Khả năng ứng dụng tiến bộ công nghệ của NHTM được thể hiện qua những thiết bị mới được sử dụng, sự kết hợp giữa con người và công nghệ, và sự kết nối công nghệ giữa các NH với nhau.

* Năng lực, trình độ, chất lượng của người lao động

Trong cuộc đua của NHTM, con người là một trong những yếu tố tiên quyết. Tuy nhiên, với sự áp dụng tiến bộ công nghệ ngày càng mạnh của NHTM, cạnh tranh trong việc cung cấp các dịch vụ, sản phẩm mới có chất lượng cao đã dẫn tới hệ quả là những người lao động của NHTM đó cũng phải nâng cao chất lượng. Ngoài ra, người lao động hiện nay vẫn là nhân tố chính kết nối giữa NHTM với khách hàng. Từ đây, để NHTM có thể giảm thiểu rủi ro trong quá trình hoạt động, tìm kiếm được những khách hàng trung thành với khả năng tài chính ổn định, việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng là không thể thiếu.

* Chiến lược kinh doanh

Chiến lược kinh doanh là nhân tố tác động tới nguyên tắc kinh doanh của một ngân hàng trong trung và dài hạn, được áp dụng trong toàn bộ hệ thống ngân hàng đó từ hội sở đến chi nhánh, phòng giao dịch. Chiến lược kinh doanh sẽ giúp NHTM có cái nhìn tổng thể về mục tiêu kinh doanh; sự phù hợp với phát triển của ngân hàng, phát triển của nền kinh tế; xác định được phương hướng hoạt động trong trung và dài hạn của ngân hàng. Đây là nhân tố có ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của ngân hàng trong trung và dài hạn.

* Phương thức phân phối

Cách thức ngân hàng sử dụng để đưa sản phẩm, dịch vụ của mình tiếp cận với khách hàng có hiệu quả hay không sẽ được thể hiện qua phương thức phân phối của ngân hàng đó. Khi các ngân hàng không có sự khác biệt nhiều về dịch vụ và sản phẩm cung ứng, phương thức phân phối sẽ là nhân tố tiên quyết giúp khách hàng lựa chọn ngân hàng giao dịch. Lượng khách hàng thu hút càng nhiều, thị phần của ngân hàng được mở rộng, kéo theo thu nhập của ngân hàng càng cao, gia tăng hiệu quả kinh doanh của ngân hàng.

Các NHTM đã tận dụng sự phát triển của khoa học công nghệ để cung ứng đến khách hàng của mình những sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao. Những kênh phân phối mới được phát triển song song với những kênh phân phối truyền thống. Hoạt động cùng những phòng giao dịch, chi nhánh truyền thống ngày trước là những kênh phân phối hiện đại công nghệ (ATM, máy POS, internet banking, mobile banking, chi nhánh tự động hóa…). Khoa học công nghệ đã mở ra cho các NHTM một kênh phân phối hiệu quả, tiếp cận được với những khách hàng nhỏ lẻ ở khoảng cách địa lý xa, giúp khách hàng thuận tiện trong sử dụng các dịch vụ, sản phẩm của ngân hàng. Không quá khi nói phương thức phân phối quyết định lớn đến hiệu quả kinh doanh ngân hàng khi nó ảnh hưởng tới số lượng khách hàng mà ngân hàng đó thu hút được.

Tham khảo thêm

Lê Thị Thúy (2020). Hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam. Luận án tiến sĩ kinh tế. Học viện Tài chính. Hà Nội.

Bài viết liên quan / hoặc cùng chủ đề