Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Malaysia, Thái Lan sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu, và những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn các nước này đã gợi mở nhiều hàm ý và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam trong đổi mới mô hình tăng trưởng.

1. Quan điểm về mô hình tăng trưởng

Thời gian qua, Việt Nam đã là một trong những nước đạt tốc độ tăng trưởng nhanh. Tuy vậy, chúng ta đã lựa chọn con đường chấp nhận tăng trưởng bằng mọi giá, điều đó làm cho:

(i) Thành tựu tăng trưởng về mặt số lượng đạt được chưa tương xứng với tiềm năng;

(ii) Chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp;

(iii) Huy động và hiệu quả sử dụng các nguồn lực còn hạn chế, lãng phí, thất thoát còn nhiều, tiêu hao nguyên liệu, năng lượng còn rất lớn;

(iv) Việc khai thác và sử dụng tài nguyên chưa thật hợp lý và tiết kiệm;

(v) Các cân đối kinh tế vĩ mô chưa thật vững chắc, bội chi ngân sách, thâm hụt cán cân thương mại còn lớn, lạm phát còn cao. Vì vậy, đổi mới mô hình tăng trưởng phải quán triệt một quan điểm xuyên suốt, đó là: Tăng trưởng kinh tế phải đảm bảo được yêu cầu bền vững và hiệu quả trong dài hạn.

Quan điểm chung nói trên được cụ thể hóa như sau:

Thứ nhất, tăng trưởng theo hướng tập trung (không dàn trải, phân tán):

Ở Việt Nam, thời gian qua, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu phụ thuộc vào vốn. Tuy vậy, vốn đầu tư bỏ vào mang nặng tính chất “quảng canh”, đầu tư dàn trải, manh mún, trùng lặp, thiếu tập trung. Chúng ta cũng đã hình thành các vùng trọng điểm, hay những điểm động lực tăng trưởng như các KCN, khu kinh tế,… Nhưng việc phát huy vai trò của các vùng động lực tăng trưởng chưa cao, tính trọng điểm chưa mạnh và lại đang có xu hướng dàn trải với mật độ kinh tế có xu hướng thấp đi.

Xuất phát từ lý do trên, thời gian tới, cần chyển tư duy tăng trưởng dàn đều sang tư duy tăng trưởng tập trung. Tăng trưởng nhanh, bền vững và hiệu quả, cần phải dựa vào sức mạnh của các ngành, vững, điểm động lực tăng trưởng. Liên quan đến quan điểm này là việc cần thiết phải:

(i) Xác định các ngành, vùng có lợi thế so sánh;

(ii) Đầu tưu để chuyến thành lợi thế cạnh tranh mang tính quốc tế;

(iii) Khai thác lợi thế cạnh tranh để đảm bảo sản xuất kinh doanh có hiệu quả và khả năng duy trì tính hiệu quả trong dài hạn.

Một khía cạnh đáng lưu ý trong quá trình xác định và nuôi dưỡng các lợi thế so sánh để trở thành lợi thế cạnh tranh là cần dựa trên quan điểm cạnh tranh quốc tế và đặt Việt Nam trong khung cảnh hội nhập quốc tế (toàn cầu) và khu vực ngày càng sâu rộng. Trên cơ sở đó, xác định rõ vị trí hiện tại và xu thế tương lai của các ngành, sản phẩm của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Khó khăn lớn nhất của việc chuyển dịch này là chấp nhận một khoảng cách chênh lệch giữa các vùng và giữa các tầng lớp dân cư ở một mức độ tương đối cao trong ngắn hạn. Những khiếm khuyết này sau đó có thể được điều chỉnh từng bước trong dài hạn.

Thứ hai, đưa khu vực tư nhân thực sự trở thành động lực chủ yếu của tăng trưởng kinh tế.

Theo xu thế phát triển của nền KTTT, khu vực tư nhân phải phấn đầu để trở thành động lực chính cho việc đáp ứng các yêu cầu tăng trưởng của nền kinh tế. Tính hiệu quả trong TTKT phải gắn liền với sự lớn mạnh của khu vực tư nhân. Kinh nghiệm thành công của nhiều nước như Hàn Quốc, Đài Loan; hoặc kinh nghiệm của Malaysia và Thái Lan cho thấy vai trò tham gia trực tiếp vào các lĩnh vực kinh tế của khu vực nhà nước luôn có xu hướng giảm dần theo sự lớn mạnh của khu vực tư nhân.

Trong một thời gian rất lâu, chúng ta đã duy trì một môi trường không bình đẳng giữa khu vực nhà nước và khu vực tư nhân. Việc duy trì sự tồn tại của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) hoạt động dưới sự bảo trợ của nhà nước đã gây không ít cản trở cho khu vực tư nhân. Chính các DNNN đã trở thành một bộ phận chậm tiến với nhiều khuyết tật lớn, đặc biệt là tính kém hiệu qủa trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước ở Việt Nam chiếm tỉ trọng cao nhất trong tổng đầu tư xã hội, tuy nhiên hiệu quả đầu tư của khu vực này được đánh giá kém hiệu quả nhất và có xu hướng ngày càng kém đi. Hiện tượng kém hiệu quả của nguồn vốn nhà nước sẽ gây bất lợi cho tăng trưởng trong giai đoạn tới. Vì thế, trong giai đoạn tới, cần tạo môi trường cạnh tranh thực sự bình đẳng; coi kinh tế tư nhân ngày càng trở thành động lực chủ yếu của TTKT; xác định hợp lý chức năng và vai trò của kinh tế nhà nước; hình thành luật và các văn bản mang tính luật để tạo dựng hành lang pháp lý cho sản xuất kinh doanh của mọi khu vực kinh tế; xây dựng đồng bộ các chính sách khai thác, huy động và sử dụng nguồn lực đối với các khu vực kinh tế.

Thứ ba, đổi mới mạnh mẽ thể chế quản lý kinh tế theo hướng nâng cao trách nhiệm và tính minh bạch

Trước hết, có thể khẳng định, công cuộc đổi mới kinh tế của Việt Nam đã phát triển tới mức đòi hỏi phải đẩy mạnh hơn nữa việc đổi mới tổ chức, phương pháp hoạt động của hệ thống chính trị và hệ thống hành chính và sự kết hợp hài hòa hơn nữa giữa các bộ phận cấu thành hệ thống đó. Trong thời gian qua, chúng ta chưa có những đột phá trên lĩnh vực này. Đã có nhiều nghị quyết, nhiều chủ trương chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhưng hiệu quả thực tiễn còn thấp. Bộ máy của hệ thống chính trị và hành chính còn quá cồng kềnh, cơ chế vận hành chưa thật khoa học, tình trạng lẫn lộn chức vụ, nhiệm vụ giữa các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị và hệ thống hành chính còn xuất hiện ở nhiều cấp, nhiều địa phương.

Việc thực hiện luật pháp, kỷ cương không nghiêm. Nhiều nơi còn vi phạm quyền làm chủ của nhân dân. Vai trò và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu còn mờ nhạt. Đội ngũ cán bộ, công chức chưa đủ mạnh, phương pháp hoạt động của nhiều cán bộ Đảng, chính quyền trong tình trạng “viên chức hóa”. Sự yếu kém đó, nếu không được khắc phục có hiệu quả, thì một số phương diện của hệ thống chính trị đó sẽ trở thành lực cản lớn đối với đổi mới trên lĩnh vực kinh tế. Vì vậy, một vấn đề mang tính nguyên tắc trong quá trình chuyển đổi MHTTKT là đổi mới kinh tế phải được thực hiện cùng với đổi mới chính trị và cải cách hành chính. Liên quan đến vấn đề này là: Đổi mới tư duy của hệ thống chính trị về phát triển kinh tế, phân định rõ chức năng, vai trò của Đảng, bộ máy quản lý chính quyền và tổ chức chính trị các cấp đối với các vấn đề chinh tế; thay đổi phương thức và nâng cao hiệu qủa của quản lý hành chính nhà nước về kinh tế; làm trong sạch bộ máy quản lý hành chính nhà nước, nâng cao vai trò của người đứng đầu.

Thứ tư, xây dựng năng lực sản xuất công nghiệp trở thành nền tảng của tăng trưởng kinh tế

Trong nền kinh tế hiện đại, dịch vụ có vai trò quan trọng, nhưng thực tế cho thấy đối với những quốc gia có điểm xuất phát thấp như Việt Nam, công cuộc công nghiệp hóa chỉ có thể được tiến hành thông qua việc phát triển sản xuất công nghiệp. Những quốc gia có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ nhất và thoát khỏi khủng hoảng nhanh nhất là những quốc gia dựa trên một năng lực sản xuất công nghiệp tiên tiến và có khả năng cạnh tranh toàn cầu. Mặt khác, mọi ngành kinh tế khác chỉ có thể phát triển một cách mạnh mẽ trên cơ sở một nền sản xuất công nghiệp tiên tiến. Không chỉ là vấn đề tỉ trọng trong nền kinh tế, mà sản xuất công nghiệp tạo ra một nguồn nhân lực có chất lượng và có kỷ luật, một xã hội có tính chuyên nghiệp cao. Vì vậy, xây dựng năng lực sản xuất công nghiệp phải trở thành mục tiêu ưu tiên trong tăng trưởng kinh tế.

Thứ năm, tăng trưởng kinh tế gắn chặt với tiến bộ và công bằng xã hội, tập trung chủ yếu vào nâng cao phúc lợi dân cư

Trong thời gian qua, đứng trên góc độ xã hội, có thể thấy TTKT Việt Nam đã hướng theo mô hình tăng trưởng vì con người. Tuy nhiên, bản thân sự tiến bộ về TTKT chưa đủ lực để tạo nên những bước đột phá (tiến bộ vượt bậc) về mặt xã hội cho con người. Mặt khác, chính bản thân cách thức thực hiện mục tiêu tăng trưởng của chúng ta hiện nay cũng đã làm giảm dần hiệu ứng của mô hình tăng trưởng vì con người. Tác động của tăng trưởng GDP vào phát triển con người ở Việt Nam đang có xu hướng giảm dần, nhất là tác động của tăng trưởng đến phát triển giáo dục, xóa đói giảm nghèo, công bằng xã hội, cũng như thực hiện sự phân bổ nguồn lực giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội. Vì vậy, để hướng tới tăng trưởng bền vững, phải hướng mô hình tăng trưởng mới nhiều hơn vào mục tiêu tiến bộ và công bằng xã hội.

Liên quan đến vấn đề này, cần:

(i) Tạo cho dân cư, người lao động có nhiều cơ hội (môi trường và năng lực) tham gia vào quá trình TTKT;

(ii) Thực hiện từng bước và qua nhiều cách khác nhau để lan tỏa kết quả tăng trưởng đến mọi tầng lớp dân cư, thông qua hoàn thiện các hình thức phân phối thu nhập và các chương trình hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo.

Thứ sáu, gắn chặt TTKT với đảm bảo mục tiêu thân thiện với môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu.

Đi đôi với TTKT nhanh, thời gian qua, Việt Nam đã thực sự phải trả giá cho vấn đề ô nhiễm môi trường và đứng trước nguy cơ cạn kiệt tài nguyên cũng như những đe dọa về mặt mất cân bằng sinh thái và biến đổi khí hậu. Với thực trạng TTKT chủ yếu dựa vào tài nguyên, với trình độ công nghệ kỹ thuật khai thác, chế biến phần lớn là công nghệ thấp, kết hợp với các chính sách thiếu đồng bộ giữa tăng trưởng nhanh với quản lý và bảo vệ tài nguyên môi trường, MHTT của Việt Nam hiện nay đang có xu hướng không thân thiện môi trường, có ảnh hưởng ngày càng lớn đến tính chất bền vững trong TTKT ở Việt Nam hiện nay. Vì thế, trong thời gian tới cần xóa bỏ quan điểm tăng trưởng bằng mọi giá và phải hướng sự tăng trưởng theo yêu cầu của phát triển bền vững, nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Theo quan điểm này: TTKT được thực hiện có hiệu quả trên cơ sở khai thác và kéo dài chuỗi giá trị sản phẩm từ một nguồn tài nguyên ban đầu; quá trình tăng trưởng pahir gắn liền với quan điểm bảo vệ môi trường: Phát triển ngành ít ô nhiễm, đầu tư thiết bị chống ô nhiễm môi trường; có các ứng phó kịp thời với những hiện tượng biến đổi khí hậu.

2. Nội dung mô hình tăng trưởng

Đảng ta đã đề ra chủ trương đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu lại nền kinh tế, nâng cao chất lượng, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh, bền vững. Báo cáo chính trị Đại hội XI (năm 2011) của Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định rõ việc cần phải tiến hành chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế từ “chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững”. Đến Đại hội XII (năm 2016), Việt Nam tiếp tục khẳng định quan điểm và tư duy chiến lược trong đổi mới phương thức lãnh đạo kinh tế, nhằm thực hiện hiệu quả mục tiêu đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển nhanh và bền vững, bảo đảm nâng cao rõ rệt thực lực đất nước và đời sống của nhân dân. Đó là “kết hợp có hiệu quả phát triển chiều rộng với chiều sâu, chú trọng phát triển chiều sâu, nâng cao chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh”. Trong giai đoạn hiện nay, mục tiêu của Việt Nam là đẩy mạnh chuyển đổi mô hình phát triển từ chiều rộng sang chiều sâu, xây dựng mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và hiệu quả cùng với sự đổi mới sáng tạo, hướng tới sự phát triển nhanh và bền vững.

Nhận thức được những yêu cầu quan trọng trên, Hội nghị Trung ương 4 khóa XII (tháng 10/2017) đã cùng thảo luận, thống nhất ban hành “Nghị quyết về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế”. Văn kiện nêu trên cho thấy quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam là cần tiếp tục chương trình tái cơ cấu chưa hoàn tất bằng cách đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất, tăng cường chất lượng và cải thiện năng lực cạnh tranh kinh tế; vốn và nhân lực cần được phân bổ theo nguyên tắc thị trường; tăng trưởng kinh tế cần được đảm bảo bằng ổn định kinh tế vĩ mô, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường. Sau đó, tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XIV (tháng 11/2017), Quốc hội Việt Nam đã thống nhất ban hành “Nghị quyết về kế hoạch cơ cấu lại nền kinh tế giai đoạn 2016 – 2020”. Nghị quyết này tái khẳng định những ưu tiên cải cách cơ cấu quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong năm năm tới, cũng là những mục tiêu đổi mới mô hình tăng trường mà Việt Nam ưu tiên thực hiện trong giai đoạn hiện nay. Một số nội dung chính của các nghị quyết quan trọng nêu trên là:

– Phát triển mạnh mẽ khu vực kinh tế tư nhân và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài. Mục tiêu tổng quát là xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng, công bằng, thuận lợi, giảm rào cản kinh doanh, giảm chi phí và rủi ro thể chế đối với doanh nghiệp. Các nhiệm vụ chính bao gồm:

(i) Cải thiện môi trường kinh doanh và hỗ trợ phát triển doanh nghiệp tư nhân cả ở cấp trung ương và địa phương;

(ii) Tăng cường hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ;

(iii) Trợ giúp các doanh nghiệp tư nhân lớn trong đầu tư dài hạn, tạo dựng thương hiệu mạnh và nâng cao năng lực cạnh tranh trong nước và quốc tế;

(iv) Nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thông qua việc áp dụng cạnh tranh thị trường bình đẳng và mạnh mẽ;

(v) Thu hút và quản lý hợp lý đầu tư trực tiếp nước ngoài.

– Tái cơ cấu khu vực kinh tế nhà nước, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, tái cơ cấu đầu tư công, tái cơ cấu ngân sách nhà nước và khu vực dịch vụ sự nghiệp công. Mục tiêu tổng quát là cắt giảm hợp lý và cương quyết các hoạt động đầu tư, kinh doanh của nhà nước tại các ngành, nghề mà khu vực kinh tế tư nhân có thể kinh doanh hiệu quả. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của khu vực sự nghiệp công lập bằng cách tăng cường áp dụng nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách nhiệm và quy luật cạnh tranh của kinh tế thị trường.

– Tái cơ cấu thị trường tài chính, trọng tâm là tái cơ cấu các tổ chức tín dụng và thị trường chứng khoán. Mục tiêu tổng quát là cơ bản hoàn thành quá trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng, giảm mạnh rủi ro hệ thống và tăng cường độ rộng và hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính. Ba mục tiêu quan trọng trong nội dung này gồm:

(i) Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý tiền tệ, ngân hàng;

(ii) Đẩy nhanh quá trình xử lý nợ xấu và và áp dụng tiêu chuẩn Basel II tại các tổ chức tín dụng;

(iii) Mở rộng quy mô và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu và thị trường bảo hiểm.

– Hiện đại hóa công tác quy hoạch, cơ cấu ngành và vùng kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, gắn với đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Mục tiêu tổng quát là đẩy mạnh hiện đại hóa công tác quy hoạch và kế hoạch phát triển, từng bước thiết lập cơ cấu kinh tế ngành, vùng phù hợp theo lợi thế của từng ngành, vùng, nâng cao năng suất lao động và giá trị gia tăng của từng ngành, vùng và của cả nền kinh tế. Ưu tiên phát triển các ngành trọng điểm, có lợi thế cạnh tranh; ưu tiên dành nguồn lực nhà nước hỗ trợ phát triển các ngành kinh tế và địa bàn kinh tế ưu tiên.

– Tái cơ cấu các thị trường nhân tố sản xuất quan trọng, bao gồm thị trường quyền sử dụng đất, phát triển nhân lực và phát triển khoa học công nghệ. Mục tiêu tổng quát là hình thành đồng bộ các yếu tố của nền kinh tế thị trường, làm cơ sở phân bổ nguồn lực hiệu quả, phù hợp với các mục tiêu tái cơ cấu kinh tế và chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Như vậy, MHTT giai đoạn 2011 – 2030 hàm chứa hai nội dung cơ bản:

(1) Mục tiêu cần đạt được của quá trình TTKT là bền vững, hiệu quả và vì con người;

(2) Phương thức thực hiện là dựa trên các yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu (theo góc độ các yếu tố đầu vào của tăng trưởng), bằng việc khai thác các lợi thế cạnh tranh để tạo nên một cơ cấu kinh tế mở và hiệu quả (theo góc độ đầu ra của tăng trưởng) và trên nền một cơ chế kinh tế thị trường hoàn chỉnh và cơ chế phân phối hợp lý các thành quả của TTKT (góc độ cơ chế kinh tế và xã hội).

Dựa trên thực tiễn và mục tiêu nghiên cứu; căn cứ theo lộ trình xác định trong Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Việt Nam (trong Chiến lược này, các nội dung về mục tiêu KTXH cũng được đặt ra cho đến năm 2020 và tiếp đó là tầm nhìn đến năm 2030), luận án chia lộ trình thực hiện thành hai giai đoạn: Giai đoạn 1 từ năm 2011 đến năm 2020, và giai đoạn 2 từ năm 2021 đến năm 2030.

Nội dung cụ thể và những đề xuất mục tiêu và giải pháp cho mô hình TTKT chủ yếu trong luận án tập trung cho giai đoạn 2 (2021 – 2030).

MHTT trong giai đoạn này hướng tới mục tiêu bền vững, hiệu quả vì con người trên cơ sở:

(i) Tập trung đầu tư vốn và lào động theo chiều sâu trên phạm vi toàn nền kinh tế;

(ii) phát huy lợi thế cạnh tranh theo ngành, sản phẩm và vùng động lực được phát triển trong giai đoạn 2011 – 2020;

(iii) vận hành thông suốt cơ chế KTTT và gắn chặt quá trình tăng trưởng với thực hiện tiến bộ xã hội. Nội dung cụ thể của cơ chế vận hành MHTTKT giai đoạn 2 được thể hiện qua những khía cạnh chính sau đây:

Một là, chuyển sang tăng trưởng theo chiều sâu trên phạm vi toàn bộ nền kinh tế.

Từ năm 2020 đến năm 2030, MHTT của Việt Nam xét theo yếu tố đầu vào hoàn toàn được dựa trên yếu tố tăng trưởng theo chiều sâu với sự đóng góp 2/3 của yếu tố năng suất nhân tố tổng hợp. Trong giai đoạn này, đi đôi với đầu tư công nghệ và lao động chất lượng cao dựa trên cơ sở tiếp tục thực hiện đầu tư trực tiếp với nước ngoài theo các mô hình liên kết đầu tư trực tiếp là việc đẩy mạnh nghiên cứu và triển khai trong nước với sự phát triển mạnh của các khu công nghệ cao của quốc gia. TTKT trong giai đoạn này nhấn mạnh chủ yếu vào khía cạnh chất lượng với hiệu quả đạt được các chỉ tiêu tăng trưởng ngày càng cao hơn.

Hai là, hoàn thiện và khai thác lợi thế cạnh tranh đã tạo dựng được, tiếp tục chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế theo hướng ngày càng có hiệu quả

Trên cơ sở đầu tư vốn và lao động theo chiều sâu cho các ngành có lợi thế so sánh ở giai đoạn 2011 -2020, danh mục các ngành kinh tế có lợi thế cạnh tranh đã được hình thành rõ rệt. Giai đoạn 2021 – 2030 tiếp tục đầu tư theo chiều sâu cho các ngành này để hoàn thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng sản phẩm, đầu tư phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ cho nó để hoàn thiện lợi thế cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường quốc tế. Các ngành kinh tế mũi nhọn sẽ được định hướng bố trí, tổ chức sản xuất qua các mô hình hiện đại như tập đoàn kinh tế, công ty mẹ con, các công ty liên kết với nước ngoài trên phạm vi lớn hơn.

Ba là, hoàn thiện và khai thác lợi thế nhờ quy mô và nhờ mạng lưới của các vùng động lực tăng trưởng

Trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại các vùng kinh tế trọng điểm (VKTTĐ) và các khu công nghiệp (KCN) trong giai đoạn trước, đến giai đoạn 2021 – 2030, tiếp tục hoàn thiện các vùng động lực tăng trưởng này trên cơ sở thực tiễn hiện tốt các mối liên kết giữa các vùng động lực với nhau, liên kết giữa các vùng động lực và vùng không động lực, hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông kết nối các vùng động lực với các đầu mối trung tâm thương mại trong nước và các khu vực cảng hàng không, cửa khẩu để phục vụ tốt cho quan hệ trao đổi ngoại thương, hoàn thiện hệ thống đô thị với các dịch vụ hiện đại trong các VKTTĐ. Phát triển các mô hình tổ chức KCN hiện đại nhằm gia tăng nhanh mật độ kinh tế trên các khu vực động lực của nền kinh tế.

Bốn là, vận hành thông suốt cơ chế thị trường

Với những biện pháp quyết liệt nhằm cải cách hành chính nhà nước, đi đôi với đổi mới chính trị, đến giai đoạn 2021 – 2030, MHTT đã có thể vận hành trên nền tảng một nền hành chính công gọn nhẹ, hiệu lực và chất lượng phục vụ tốt hơn. Nền hành chính công gọn nhẹ được thể hiện ở chỗ phạm vi can thiệp của nhà nước đã được thu hẹp và tập trung vào những lĩnh vực thực sự cần vai trò điều tiết của nhà nước, mở rộng phạm vi hoạt động của khu vực tư nhân; bộ máy hành chính được tính giảm với các chức năng thích ứng được với những thay đổi của môi trường cạnh tranh toàn cầu. Nền hành chính công hiệu lực là nền hành chính có sức cạnh tranh. Chuyển từ phương thức quản lý tập trung, cứng nhắc sang hoạt động hướng theo kết quả. Các tổ chức công có trách nhiệm giải trình cao hơn, trung thành với lợi ích của công chúng, quản lý nguồn tài chính công đáng tin cậy, với chi phí thấp nhất và giảm thiểu rủi ro, nỗ lực hướng đến cải thiện chất lượng dịch vụ công.

Cuối cùng, nền hành chính công có chất lượng phục vụ tốt hơn, là một nền hành chính trên nền tảng tôn trọng và nhạy bén với nguyện vọng của người dân, cung cấp dịch vụ tốt hơn đến người dân với tư cách là cử tri, người đóng thuế và khách hàng của các dịch vụ công. Các tổ chức công quyền thực hành công vụ đúng việc và đúng cách, với chi phí hoạt động tiết kiệm và có hiệu quả cao. Một nền hành chính công như vậy sẽ tương hợp và có tác dụng tích cực thúc đẩy, chứ không còn là một lực cả tiềm tàng cho sự vận hành thông suốt của cơ chế thị trường.

Năm là, tăng trưởng đồng thời với cải thiện thu nhập cho các vùng chậm phát triển thông qua chính sách phân phối lại thu nhập.

Giai đoạn 2011 – 2020, việc tác động lan tỏa của TTKT đến với các đối tượng hưởng lợi ích được thực hiện kết nối giữa các vùng động lực với các vùng khác để tạo cơ hội cho người dân các vùng chậm phát triển có nhiều điều kiện tham gia vào hoạt động kinh tế. MHTT giai đoạn 2021 – 2030, tác động lan tỏa của tăng trưởng được thực hiện trên một bước cao hơn bằng thực hiện chính sách chuyển nhượng ngân sách từ vùng trọng điểm cho các vùng chậm phát triển. Chuyển nhượng để tái phân phối nguồn thu thuộc các địa phương thuộc vùng động lực để có thể làm giảm sự cách biệt trong năng lực tài chính giữa vùng động lực với các vùng khác. Các chuyển nhượng nguồn lực có thể được thực hiện bằng cách tăng cường cung cấp dịch vụ công cho các vùng chậm phát triển như y tế, giáo dục, đầu tư cơ sở hạ tầng, các chương trình xóa đói giảm nghèo,… trên cơ sở nguồn lực được chuyển nhượng từ các vùng động lực.

Sáu là, tăng trưởng chú trọng đến yêu cầu thân thiện với môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trong giai đoạn 2011 – 2020, vấn đề môi trường trong TTKT chủ yếu giải quyết vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên và chống ô nhiễm môi trường. MHTT giai đoạn 2021-2030, vấn đề môi trường được giải quyết theo chiều sâu và bền vững hơn, trong đó bao gồm:

(i) Coi trọng TTKT xanh, nghiên cứu thực hiện MHTT cacbon thấp;

(ii) thực hiện quá trình đa dạng hóa sinh học, hình thành những vùng vệ tinh tạo yếu tố môi trường thuận lợi cho những khu vực có ô nhiễm;

(iii) cải tiến cơ cấu ngành nghề theo hướng hiện đại, công nghệ cao, sạch, tiêu tốn ít năng lượng, đẩy mạnh công tác NCKH, đổi mới công nghệ trong các ngành công nghiệp, tăng cường đưa nhanh tiến bộ khoa học và kỹ thuật vào nông nghiệp.

3. Một số điều kiện để chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế

Chuyển đổi MHTTKT là yêu cầu tất yếu và cấp thiết đối với Việt Nam. Tuy nhiên, để chuyển đổi thành công là một công việc không dễ, không thể theo ý muốn chủ quan, mà phải được thực hiện trên cơ sở những điều kiện tiền đề cần thiết. Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm chuyển đổi MHTTKT của một số nước Đông Nam Á, và phân tích thực trạng của nền kinh tế Việt Nam thời gian qua, chuyên đề đề xuất một số tiền đề cần thiết để thực hiện các nội dung, phương pháp tiếp tục chuyển đổi MHTTKT ở Việt Nam trong thời gian tới, trong đó có những điều kiện cần đảm bảo, có những điều kiện được đảm bảo khi bắt đầu thực hiện chuyển đổi, có những điều kiện sẽ được bảo đảm trong suốt quá trình chuyển đổi MHTTKT.

Thứ nhất, nhân tố quan trọng hàng đầu trong việc đổi mới MHTTKT là đội ngũ lao động có trình độ, có năng suất lao động cao.

Nguồn nhân lực dồi dào, có khả năng tiếp thu nhanh kỹ thuật mới là một trong các lợi thế của Việt Nam. Nhưng chất lượng nguồn nhân lực, kể cả trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, tác phong, ý thức thái độ làm việc và sự phối hợp trong thực hiện công việc lại đang là yêu tố cản trở phát triển kinh tế-xã hội của đất nước. Thêm nữa, cơ cấu nguồn nhân lực của Việt Nam hiện đang ở trong tình trạng mất cân đối nghiêm trọng cũng là yếu tố làm giảm hiệu quả sử dụng nhân lực. Từ bài học kinh nghiệm của các nước, đặc biệt là kinh nghiệm của Thái Lan cho thấy, phát triển nguồn nhân lực, tạo ra đội ngũ lao động có trình độ, có năng suất lao động cao là điều kiện quan trọng hàng đầu trong việc đổi mới MHTTKT.

Nếu trình độ vốn nhân lực của con người được tăng lên thì khả năng tăng năng suất lao động, và theo đó là tăng thu nhập càng lớn. Đầu tư phát triển nguồn nhân lực vừa làm cho kinh tế tăng trưởng vì nó cung cấp một đầu vào quan trọng cho quá trình sản xuất, vừa làm giảm bất bình đẳng vì nó tạo ra cơ hội cho các tầng lớp dân cư. Điều này góp phần vào việc nâng cao chất lượng tăng trưởng kinh tế.

Muốn nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì cần đẩy mạnh cải cách hệ thống giáo dục quốc dân ở tất cả các cấp học; xây dựng và thực hiện chương trình quốc gia nâng cao thể trạng nhân lực Việt Nam; bên cạnh đó thì việc sử dụng và khai thác có hiệu quả nguồn nhân lực cũng là một vấn đề hêt sức quan trọng trong việc chuyển đổi MHTTKT. Muốn vậy, cần phải thay đổi toàn diện hệ thống thang bảng lương và các chính sách đãi ngộ bất hợp lý trong khu vực nhà nước hiện nay. Việc tuyển dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân lực phải theo hướng coi trọng khả năng chuyên môn nghề nghiệp, năng lực cống hiến hơn là bằng cấp và thâm niên. Nâng cao mức đãi ngộ với đội ngũ các chuyên gia giúp họ yên tâm cống hiến…

Thứ hai, tiết kiệm vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là một trong những điều kiện quan trọng để chuyển đổi MHTTKT.

Một trong những kinh nghiệm lớn trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn là công khai hóa, minh bạch hóa quá trình sử dụng vốn, đặc biệt là các nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước. Sự minh bạch này sẽ tạo sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nền kinh tế, hình thành cơ chế thị trường thuận lợi. Đồng thời với quá trình nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cần phải đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng giao thông vận tải, thông tin liên lạc là một chìa khóa quan trọng trong việc chuyển đổi MHTTKT. Phải phát triển có trọng tâm, trọng điểm và đầu tư tập trung, dứt điểm, kiên quyết hoàn thành những công trình kết cấu hạ tầng then chốt theo hướng hiện đại và đồng bộ ở các vùng động lực phát triển, các khu công nghệ cao, khu kinh tế.

Đi đôi với việc tăng trưởng kinh tế cần phải có chính sách tiết kiệm nguyên liệu, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái. Khẩn trương hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường: Xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý nghiêm các hành vi gây ô nhiễm môi trường.

Thứ ba, chính phủ cần thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô linh hoạt, minh bạch hóa nhằm chia sẻ công bằng thành quả tăng trưởng.

Từ bài học kinh nghiệm chuyển đổi MHTTKT của một số nước ĐNÁ cho thấy, để tránh việc tập trung quá mức vào phát triển về mặt kinh tế mà xem nhẹ các vấn đề xã hội; tránh việc thực hiện các chính sách đầu tư lệch lạc, quá ưu tiên khu vực, ngành này mà xem nhẹ các ngành, khu vực khác, nhất là khu vực nông thôn và ngành nông nghiệp sẽ làm cho nền kinh tế phát triển mất cân đối gây hiểm họa cho việc phát triển trong dài hạn. Việc Chính phủ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô linh hoạt, minh bạch hóa nhằm chia xẻ công bằng thành quả tăng trưởng cũng trở thành điều kiện, tiền đề quan trọng tác động đến thành công của chuyển đổi MHTTKT. Chính phủ cần tập trung triển khai có hiệu quả các chương trình xóa đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng khó khăn. Hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là đối với các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương.

Thứ tư, phải có một bộ máy Nhà nước mạnh

Yếu tố để đảm bảo cho sự thành công của một chiến lược phát triển là phải có một bộ máy nhà nước mạnh, nghĩa là nhà nước đó phải phát triển theo hướng tập trung, có quyền lực mạnh, cam kết theo đuổi và thực hiện các chính sách dài hạn. Điều kiện để tồn tại một Nhà nước mạnh là phải tạo ra được những cán bộ quản lý có năng lực, được trả lương cao, không bị chi phối bởi các nhóm áp lực chính sách và được trao quyền để thực hiện những sáng kiến. Muốn vậy, cần phải đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền các cấp theo hướng xây dựng một nền hành chính thông suốt, trong sạch, vững mạnh, có hiệu quả; tổ chức tinh gọn, hợp lý; tăng tính dân chủ và pháp quyền trong điều hành của Chính phủ; đẩy mạnh cải cách hành chính, nhất là thủ tục và quy trình; giảm mạnh và bãi bỏ các loại thủ tục hành chính gây phiền hà cho các tổ chức và công dân; đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ công phù hợp với sự phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức về phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, khả năng chuyên môn; có chính sách đãi ngộ, động viên, khuyến khích công chức hoàn thành nhiệm vụ và mạnh dạn loại bỏ, đào thải những cán bộ biến chất, không hoàn thành nhiệm vụ, vi phạm kỷ luật, mất uy tín với nhân dân; cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, chính sách nhà ở đảm bảo cuộc sống cho cán bộ công chức để góp phần phòng và chống tham nhũng.

Để chuyển đổi MHTTKT thành công, phải đảm bảo các điều kiện tiền đề quan trọng trên; đồng thời cũng cần đảm bảo các điều kiện khác nữa như: Hình thành đồng bộ thể chế kinh tế thị trường, gắn với cải cách hành chính, phát triển mạnh thị trường công nghệ; tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, xóa bỏ độc quyền, kiểm soát độc quyền tự nhiên. Bên cạnh đó, có một yêu cầu tuy không xếp vào những tiền đề nhưng rất quan trọng hỗ trợ quá trình chuyển đổi MHTTKT, đó là phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng, nhất là hệ thống giao thông, hạ tầng đô thị. Một vấn đề có tính nguyên tắc là trong các chủ trương, chính sách phát triển, cần lồng ghép các yếu tố của phát triển bền vững, không chỉ các yếu tố về phát triển kinh tế mà còn có các yếu tố về phát triển xã hội và bảo vệ môi trường.

Tham khảo thêm

Đặng Thành Chung (2020). Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Thái Lan và Malaysia sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam. Luận án tiến sĩ Kinh tế (Chuyên ngành Kinh tế Quốc tế). Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Hà Nội.

Bài viết liên quan / hoặc cùng chủ đề