1. Những vấn đề đặt ra với mô hình tăng trưởng kinh tế của Thái Lan từ sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu

Trong suốt thời gian 30 năm từ năm 1961 cho đến năm 1996, Thái Lan đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. Giai đoạn 1961-1986, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của nước này đạt 7,7%. Giai đoạn 1987-1996, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trung bình đạt 9,5%/năm. Điều này đã giúp Thái Lan nhanh chóng trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình và là một trong những nền kinh tế năng động trên thế giới. GDP bình quân đầu người của Thái Lan liên tục tăng mạnh nhờ vào tốc độ tăng trưởng kinh tế cao,. Năm 1966 tính theo mức giá đô la Mỹ hiện hành, GDP/người chỉ ở mức 161 đô la Mỹ, tuy nhiên đến năm 2004, con số này đã đạt 5.977 đô la. Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ châu Á 1997-1998 và khủng hoảng kinh tế toàn cầu (2008) đã gây tổn thất lớn cho nền kinh tế Thái Lan và đã xóa đi những thành tựu mà nước này đạt được trước đó. Giai đoạn 2000-2006, tăng trưởng GDP chỉ đạt 5%/năm và chỉ đạt 3,2%/ năm trong giai đoạn 2007-2013.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan (Đơn vị: %)

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan (Đơn vị: %). Nguồn: The World Bank (2015)

Cho đến nay, MHTTKT cũ không còn phát huy tác dụng nữa và sẽ ngày càng trở nên hạn chế trong tương lai, vì những lý do sau:

Thứ nhất, trong một thời gian dài, Thái Lan đạt tăng trưởng nhanh nhưng chủ yếu dựa vào sự thâm dụng vốn, bao gồm cả vốn trong nước lẫn nước ngoài. Nguồn vốn trong nước đến từ khoản tiết kiệm của dân cư và quốc gia, còn nguồn vốn nước ngoài đến từ các khoản viện trợ của Mỹ, các tổ chức tài chính quốc tế khác như Quỹ tiền tệ (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), vốn vay và vốn FDI của Nhật Bản và các nước Tây Âu khác.

Theo Peter Warr (2007), trong giai đoạn 1980-2002, đóng góp cho tăng trưởng của nền kinh tế Thái Lan có tới gần 71% là yếu tố vốn, trong khi yếu tố đầu vào lao động chỉ đóng góp 14,7%, TFP đóng góp 10% cho tăng trưởng. Theo các nhà kinh tế, một MHTT chủ yếu nhờ thâm dụng vốn, trong khi coi nhẹ đầu tư vào vốn con người và đổi mới công nghệ sẽ không bền vững, vì như đã đề cập ở trên, đóng góp của TFP vào TTKT của Thái Lan những năm qua là khá thấp. Và trên thực tế, đầu tư cho khoa học công nghệ của nước này chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Tổng chi tiêu cho R&D của Thái Lan chỉ chiếm trung bình khoảng 0,2-0,25% GDP trong giai đoạn 1996-2008, thấp hơn nhiều so với các quốc gia khác. Cụ thể, con số này thường từ 2% đến 3% ở các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc, Singapore, và khoảng 1% ở Trung Quốc.

Thứ hai, tăng trưởng nhanh nhưng chất lượng nguồn nhân lực thấp là một trong những nguyên nhân giải thích cho năng suất lao động không cao ở Thái Lan. Theo báo cáo của ILO (2010), trong giai đoạn 2001-2010, mặc dù trình độ giáo dục của người dân Thái đã được nâng cao, song nhìn chung trình độ của người lao động vẫn còn khá thấp. Phần lớn người lao động chỉ tốt nghiệp bậc trung học. Con số này tuy đã giảm từ 80% năm 2001 xuống còn 70% năm 2010 song vẫn tương đối cao. Tỷ lệ người lao động tốt nghiệp phổ thông và qua đào tạo nghề cũng như những người lao động có trình độ giáo dục đại học và các bậc cao hơn chỉ ở mức trên 10% và không thay đổi nhiều trong thời gian được xem xét. Như vậy, xét về vốn nhân lực, Thái Lan vẫn đang đứng trước những thách thức về nâng cao số lượng cũng như chất lượng nguồn nhân lực để thúc đẩy TTKT cao trong dài hạn.

Tỷ lệ lao động phân theo trình độ giáo dục của Thái Lan, giai đoạn 2001-2010

Tỷ lệ lao động phân theo trình độ giáo dục của Thái Lan, giai đoạn 2001-2010. Nguồn: ILO (2010)

Ghi chú:

– No education: Không được đào tạo

– Lower secondary: Trung học cơ sở

– Upper secondary: Trung học phổ thông

– Higher level: Trình độ trên phổ thông

Mặc dù Thái Lan ưu tiên phát triển các ngành kinh tế cần nhiều lao động, song nguồn cung cấp lao động có kỹ năng, đã qua đào tạo lẫn lao động thông thường, từ nhiều năm nay, không những thiếu mà còn không phù hợp với nhu cầu lao động ngày càng đa dạng và phức tạp ở nước này. Và theo nhiều đánh giá, tình trạng này còn trầm trọng hơn do những thay đổi về nhân khẩu trong tương lai khiến tuổi trung bình của công nhân ngày càng cao. Mặc dù Thái Lan cũng đã tính đến chuyện dựa vào lao động nước ngoài, song hiện nay đó không phải là một giải pháp thay thế thực tế, vì chỉ kéo dài thêm MHTT dựa vào lao động giá rẻ, đang không bền vững. Hơn nữa, sự thịnh vượng và do đó, lương ngày càng tăng tới mức không kém gì Thái Lan ở các nước láng giềng cũng khiến cho ngày càng ít công nhân nước ngoài muốn bỏ nước sang Thái Lan làm việc.

Một trong những nguyên nhân căn bản và cố hữu của tình trạng đáng buồn đó của nguồn nhân lực là do những khiếm khuyết và bất cập của các hệ thống giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và an sinh xã hội. Trên thực tế, so với các nước ASEAN khác, Thái Lan đã đạt được những tiến bộ rất ấn tượng trong việc cung cấp giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cho hầu hết người dân, cũng như có những cải thiện nhất định về hệ thống an sinh xã hội. Tuy vậy, vẫn còn tồn tại những khiếm khuyết rất lớn chưa dễ khắc phục trong các lĩnh vực này. Một là, hệ thống giáo dục vẫn còn lạc hậu, sản phẩm đào tạo ra vẫn chưa theo kịp được với đòi hỏi của thị trường lao động (Diễn đàn kinh tế thế giới (WEF) đã xếp hạng Thái Lan đứng thứ tám về giáo dục đào tạo trong số 10 quốc gia ASEAN. Hệ thống giáo dục của Thái Lan đang bị cho là ngày càng tụt hậu so với các nước láng giềng. Học viện quốc tế phát triển quản lý giáo dục (IMD) đã xếp giáo dục Thái Lan đứng hàng thứ 51 trong số 60 quốc gia trên toàn thế giới. Thái Lan cũng chỉ đứng hàng thứ 50 trong số 65 quốc gia tham gia cuộc thi PISA (Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế)). Hai là, sự bất bình đẳng rất lớn cần được giải quyết trong việc tiếp cận các dịch vụ giáo dục, nhất là đối với các hộ nghèo và giữa các khu vực thành thị và nông thôn. Và ba là, chất lượng của các dịch vụ này cũng cần được cải thiện để có thể đáp ứng được nhu cầu của người dân về giáo dục, y tế và của thị trường lao động về nguồn nhân lực phù hợp [Lounkaew, Kiatanantha (2011)].

Thứ ba, tăng trưởng nhanh tạo ra sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập của Thái Lan. Có thể thấy, phân phối thu nhập của Thái Lan đã bộc lộ sự bất bình đẳng ngay trong giai đoạn đầu của quá trình CNH, tuy chưa lớn lắm. Tuy nhiên, phân phối thu nhập càng trở nên bất bình đẳng và khoảng cách giàu nghèo càng lớn dần khi nền kinh tế càng tăng trưởng nhanh. Giai đoạn tăng trưởng kinh tế nhanh nhất của Thái Lan là giai đoạn từ năm 1987 đến trước năm 1997 khi nổ ra cuộc khủng hoảng tài chính, tiền tệ châu Á. Theo Ngân hàng Thế giới, ở Thái Lan, năm 1990, có khoảng 18% dân cư sống dưới mức nghèo khổ. Đến năm 1992, con số đó trong toàn quốc là 13,1%, trong đó nông thôn là 15,5% và thành thị là 10,2%. Đến năm 1998, số dân Thái Lan có mức sống dưới 1 USD/ngày chỉ còn chiếm khoảng 2%, nhưng số dân sống dưới mức 2 USD/ngày vẫn còn chiếm tới 28,2%, chủ yếu ở khu vực nông thôn [Trương Duy Hòa (2009)]. Năm 1976, hệ số GINI của Thái Lan là 0,436, cao hơn nhiều so với các nước Đông Á khác, hệ số này đặc biệt tăng nhanh cùng với quá trình CNH của Thái Lan và đạt đỉnh vào năm 1992, sau đó đã có xu hướng giảm từ năm 1994 và năm 2012 ở mức 0,393 [The World Bank (2015, 2016)]. Xét theo khu vực địa lý, thu nhập của cư dân ở thủ đô Băng Cốc và những vùng phụ cận cao hơn nhiều so với các khu vực khác ở Thái Lan, nhất là so với khu vực Đông Bắc. Nguyên nhân của sự chênh lệch là do chính sách phát triển công nghiệp của Thái Lan chỉ tập trung tại Băng Cốc và một số vùng phụ cận, khiến cho các nguồn vốn dồn về một số khu vực, trong khi những khu vực khác cần vốn hơn lại không có. Điều này đã làm gia tăng sự phân bổ mất cân đối nghiêm trọng giữa các vùng trong cả nước và càng làm gia tăng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng [xem hình minh họa dưới]. TTKT nhanh là cần thiết, song Thái Lan chỉ chú trọng đến vấn đề đảm bảo TTKT nhanh mà chưa chú ý đến sự lan tỏa của thành quả tăng trưởng từ Băng Cốc sang nhiều vùng khác, bởi vậy những vùng lạc hậu càng lạc hậu hơn và khả năng đóng góp vào TTKT ngày càng bị thu hẹp tương đối so với Băng Cốc.

Hệ số GINI của Thái Lan, giai đoạn 1981-2012

Hệ số GINI của Thái Lan, giai đoạn 1981-2012. Nguồn: The World Bank (2016)

Thứ tư, bất bình đẳng về thu nhập là một trong những nguyên nhân hạn chế người nghèo tiếp cận cơ hội giáo dục và y tế. Người nghèo không có nhiều cơ hội nhận được các thành quả của tăng trưởng nhanh mang lại. Phân tích tỷ lệ tiếp cận giáo dục của Thái Lan cho thấy, người nghèo không được bình đẳng trong tiếp cận các cơ hội giáo dục, đặc biệt số người nghèo sinh sống ở khu vực nông thôn, vùng xa xôi hẻo lánh và con cái của các lao động di cư. Tỷ lệ học đại học giữa nhóm người giàu nhất và nhóm người nghèo nhất đã rộng ra rất nhiều. Mặc dù chính phủ đã có những chính sách tích cực để thúc đẩy cho sinh viên nghèo vay tiền, song với những khoản tài chính hạn chế trong ngắn hạn không đủ để loại trừ sự mất cân bằng trong giáo dục ở quốc gia này.

Bảng Tổng quan hệ thống giáo dục của Thái Lan

 Bảng Tổng quan hệ thống giáo dục của Thái Lan. Nguồn: UNESCO Bangkok (2013)

Ngoài việc tiếp cận các cơ hội giáo dục bị hạn chế, người nghèo cũng chịu nhiều thiệt thòi trong việc tiếp cận các dịch vụ y tế, do dịch vụ này được phân bổ không đồng đều giữa các vùng. Người dân sinh sống ở khu vực thủ đô Băng Cốc có nhiều cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế, trong khi người dân ở các vùng khác có ít cơ hội hơn. Hay người nghèo ở các khu vực đô thị cũng ít có cơ hội tiếp cận các dịch vụ y tế hơn so với người dân khá giả ở khu vực đô thị.

Thứ năm, cơ cấu tài chính của Thái Lan cũng là một trở ngại cho tăng trưởng lâu dài. So với tiêu chuẩn quốc tế, thu nhập từ thuế ở Thái Lan luôn ở mức thấp, nên chính phủ Thái thường không đủ nguồn lực để đầu tư hoặc vào phát triển cơ sở hạ tầng cần cho tăng trưởng bền vững hoặc vào các chương trình phúc lợi xã hội và bảo hiểm xã hội cần thiết cho việc tích luỹ nguồn nhân lực cho phát triển lâu dài.

Thứ sáu, sức mạnh độc quyền vẫn tồn tại trong các doanh nghiệp Nhà nước, và có những quy định cấm cạnh tranh đầy đủ ở một số lĩnh vực vực kinh tế sống còn, nhất là ở các lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao, như tài chính và viễn thông. Hậu quả là sự năng động sáng tạo của khu vực kinh doanh, nhất là các doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa, không được phát huy tốt.

Khu vực tư nhân luôn ở tuyến đầu trong tăng trưởng kinh tế suốt nhiều thập kỷ trước đây đã bị chia thành hai phần khác nhau: Chỉ có một ít công ty lớn đã trở nên có sức cạnh tranh toàn cầu, còn tuyệt đại đa số là các doanh nghiệp vừa và nhỏ lại không thể có năng lực đổi mới và sáng tạo. Không thể leo lên được bậc thang cao hơn trong chuỗi sản phẩm toàn cầu là lý do vì sao đầu tư tư nhân cùng với đầu tư công cộng lại giảm mạnh so với những năm 1990.

Thứ bảy, những yếu kém về thể chế cng với những bất ổn triền miên về chính trịtrở ngại quan trọng nhất đối với tăng trưởng lâu dài của Thái Lan. Hậu quả là các chính phủ và các đảng cầm quyền ở Thái Lan liên tục và phải chi quá nhiều tâm sức để đối phó với những bất ổn chính trị, rất khó có điều kiện để có thể đưa ra được những lựa chọn chính sách quan trọng, nhất quán, lâu dài và có tính khả thi. Và điều đó cũng tác động tiêu cực và khiến Thái Lan rất khó duy trì được ổn định kinh tế vĩ mô. Ví dụ, cho đến nay, hoàn toàn không có một chính phủ nào có được những chính sách R&D và đổi mới tích cực cả. Hoàn toàn không hề có quyết tâm chính trị đưa đất nước này trở lên sáng tạo [Lê Đăng Minh, 2018.]

Thứ tám, mặc dù Thái Lan đã rất thành công trong việc đạt được mục tiêu TTKT nhanh, tăng GDP/đầu người, tuy nhiên những thành công đó đã khiến nước này phải trả những cái giá quá đắt về các vấn đề môi trường, như ô nhiễm, khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên và tàn phá rừng. Với mức tiêu thụ năng lượng không ngừng tăng để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa và đạt mục tiêu tăng trưởng kinh nhanh, Thái Lan đã phải trả giá đắt do ô nhiễm môi trường. Thủ đô Băng cốc Thái Lan là nơi chịu ô nhiễm không khí nghiêm trọng nhất vì ở đây tập trung 20% dân số cả nước và trên một nửa các nhà máy sản xuất tập trung ở khu vực thủ đô này. Phát thải khí CO2 của Thái Lan thậm chí còn cao hơn so với lượng phát thải khí của một số nước ĐNÁ khác có trình độ phát triển tương đương như Indonexia và Philippines [ILO (2013), OECD (2013)]. Công nghiệp hóa nhanh cũng khiến cho người dân Thái Lan phải chứng kiến cảnh ô nhiễm nguồn nước, ô nhiễm đất và suy thoái nghiêm trọng nguồn tài nguyên rừng.

2. Định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế

Thái Lan là một trong những nước điển hình trong việc đưa ra các kế hoạch phát triển kinh tế rất cụ thể cho tổng thể nền kinh tế, cho từng thời kỳ phát triển, và các kế hoạch đó mang tính công khai rõ nét. Việc Chính phủ Thái Lan triển khai các kế hoạch phát triển kinh tế xã hội cho thấy các giai đoạn phát triển của nền kinh tế được chia thành 3 giai đoạn chính như sau:

Giai đoạn thứ nhất: Thái Lan tập trung vào tăng trưởng kinh tế nhanh. Giai đoạn này kéo dài từ Kế hoạch thứ nhất cho đến hết Kế hoạch thứ 7 (từ năm 1961-1996) với chiến lược chủ yếu là khai thác các nguồn lực tài nguyên và lao động. Trong giai đoạn này có hai bước ngoặt lớn là: Từ Kế hoạch thứ 1 cho đến Kế hoạch thứ 4, chính phủ Thái Lan chỉ tập trung vào tăng trưởng kinh tế và phát triển cơ sở hạ tầng, tuy nhiên từ Kế hoạch thứ 5 cho đến Kế hoạch thứ 7 thì ngoài vấn đề tăng trưởng kinh tế, vấn đề phát triển về mặt xã hội đã bắt đầu được nước này quan tâm.

Giai đoạn thứ hai: Hướng tới một nền kinh tế đầy đủ. Giai đoạn này kéo dài từ Kế hoạch lần thứ 8 cho đến Kế hoạch thứ 10 (từ 1997 – 2011). Giai đoạn này đặc biệt tập trung đến vấn đề phát triển xã hội thông qua phát triển nguồn vốn con người, song song với ổn định kinh tế.

Giai đoạn thứ ba: Hướng tới nền kinh tế đầy đủ và phát triển bền vững. Giai đoạn này bắt đầu từ Kế hoạch thứ 11 (từ 2012 – 2016), dựa trên sự kết hợp nhịp nhàng giữa phát triển nguồn vốn con người, công nghệ và sự đổi mới.

Những định hướng trong chuyển đổi MHTTKT ở Thái Lan sau KHKTTC được lồng ghép vào các kế hoạch 5 năm về phát triển kinh tế và xã hội quốc gia của Thái Lan, tập trung trong các Kế hoạch lần thứ 10 và 11. Các Kế hoạch tuân theo Triết lý của Nhà vua về “một nền kinh tế vừa đủ”, nhằm tăng cường “sức chống chịu” của nền kinh tế bên cạnh mô hình tăng trưởng thông thường.

Kế hoạch phát triển lần thứ 10 (2007 – 2011) bao gồm 5 chiến lược phát triển thuộc các lĩnh vực khác nhau, đó là:

(1) Phát triển nguồn nhân lực và xã hội;

(2) Thiết lập các cộng đồng kinh tế lớn mạnh, tạo nền tảng vững chắc cho toàn quốc gia và phát triển một nền kinh tế cộng đồng phụ thuộc lẫn nhau, hài hòa, cân đối với môi trường tự nhiên và xã hội;

(3) Cải tiến các biện pháp sản xuất để có thể cạnh tranh trên toàn cầu, tạo ra các sản phẩm có giá trị gia tăng mang phong cách riêng và khác biệt với các sản phẩm cạnh tranh khác, nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế, thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài;

(4) Bảo vệ môi trường;

(5) Xây dựng bộ máy chính quyền trong sạch, không quan liêu tham nhũng. Và cũng từ thời điểm này, chiến lược phát triển kinh tế tri thức được Thái Lan triển khai rất tích cực.

Kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội quốc gia lần thứ 11 (2012 – 2016) tiếp tục thực hiện đường lối của “Triết lý về nền kinh tế vừa đủ”, đặc biệt nhấn mạnh đến phát triển nguồn nhân lực quốc gia và an ninh con người, coi đây là vấn đề trung tâm của Kế hoạch 11 và đường hướng phát triển đất nước trong tương lai. Lấy con người là trung tâm phát triển, tăng cường sự tham gia rộng rãi của các thành phần nhằm đạt mục tiêu phát triển cân bằng, toàn diện và thống nhất trong tầm nhìn chung về “một xã hội hạnh phúc, công bằng, bình đẳng và bền bỉ”. Kế hoạch cũng bổ sung thêm các định hướng về nền kinh tế xanh, xã hội xanh, hướng tới mục tiêu cơ bản là phát triển bền vững.

Trong Kế hoạch 11, Thái Lan xây dựng 6 chiến lược phát triển ưu tiên bao gồm:

– Chiến lược 1: xây dựng xã hội công bằng. Các mục tiêu của chiến lược bao gồm tạo cơ hội để tất cả mọi người được tiếp cận nguồn vốn, nguồn lực và thu nhập; nâng cao thu nhập và tăng cường an sinh xã hội; trợ giúp người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn, lao động nước ngoài, người lao động không chính thức và các nhóm dân tộc để họ được tiếp cận bình đẳng các dịch vụ xã hội; hỗ trợ các đối tác phát triển để chung sức xóa bỏ bất công , giải quyết xung đột một cách hiệu quả và xây dựng một xã hội chất lượng.

– Chiến lược 2: Phát triển nguồn nhân lực để xây dựng một xã hội không ngừng học hỏi. Mục tiêu của chiến lược là phát huy tiềm năng của nhân dân Thái Lan thông qua việc giáo dụccon ngườicó đầu óc có kỷ luật, tư duy tổng hợp, sáng tạo, tôn trọng và có đạo đức; xây dựng gia đình, cộng đồng và môi trường xã hội phục vụ việcphát triển con người và thích ứng được với những thay đổi kinh tế và xã hội.

– Chiến lược 3: Cân bằng an ninh lương thực và năng lượng. Mục tiêu của chiến lược là phát triển khu vực nông nghiệp để sản xuất lương thực chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và bảo đảm thu nhập của nông dân, bảo tồn các giống cây thảo mộc và cân bằng sản xuất lương thực và năng lượng thay thế.

– Chiến lược 4: Xây dựng nền kinh tế tri thức và cải thiện môi trường kinh tế. Mục tiêu của chiến lược là biến Thái Lan là trung tâm của các sản phẩm sáng tạo và đổi mới trong khu vực. Công nghệ tri thức và sáng tạo là các yếu tố quan trọng đưa nền kinh tế hướng tới tăng trưởng bền vững, cân bằng và toàn diện. Việc phát triển các sản phẩm giá trị và có giá trị gia tăng sẽ được lồng ghép trong mỗi chuỗi cung ứng hàng hóa và dịch vụ. Môi trường kinh doanh cần được cải thiện, cụ thể là phát triển cơ chế thị trường tự do và bình đẳng hơn, xây dựng cơ sở hạ tầng và mạng lưới logistic chất lượng và tăng cường quản lý rủi ro kinh tế.

– Chiến lược 5: Tăng cường hợp tác an ninh và kinh tế khu vực. Mục tiêu của chiến lược là chuẩn bị và thích ứng trước các thách thức của khu vực và toàn cầu, cụ thể là khi tham gia Cộng đồng ASEAN; tăng cường các lợi thế cạnh tranh về kinh tế và nâng cao vai trò của quốc gia trên trường quốc tế, đồng thời loại bỏ những tác động tiêu cực và các vấn đề quốc tế.

– Chiến lược 6: Quản lý bền vững tài nguyên thiên nhiên và môi trường. Chiến lược tập trung vào công tác bảo tồn và khôi phục tài nguyên thiên nhiên, sản xuất và tiêu thụ theo hướng thân thiện với môi trường và thích nghi với biến đổi khí hậu.

Chiến lược về Mô hình Tăng trưởng mới của Thái Lan

Hiện tại, Thái Lan coi trọng việc đề ra các nguyên tắc cơ bản về phát triển quốc gia với mục tiêu thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” và trở thành quốc gia tiên tiến trong tương lai. Chính phủ hoàng gia Thái Lan mới đây công bố “Các chiến lược Phát triển đất nước”. Đây chính là MHTT mới của Thái Lan dựa trên việc nâng cao tính cạnh tranh, tăng trưởng toàn diện, tăng trưởng xanh và quản trị trong nước tốt hơn.

Thứ nhất: Tăng trưởng và cạnh tranh. Mục tiêu là duy trì TTKT và tăng cường sức cạnh tranh giúp đất nước thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” và bước vào nhóm các nước thu nhập cao trong tương lai. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong dài hạn đạt 5-6%. Các biện pháp chính bao gồm:

– Củng cố các ngành công nghiệp hiện tại, phát triển các ngành công nghiệp tương lai để đem lại nguồn thu nhập mới.

– Tăng giá trị gia tăng trong khu vực dịch vụ và nông nghiệp, bảo đảm các nguồn thu chính của đất nước và doanh nghiệp.

– Cải thiện môi trường thông qua ổn định kinh tế vĩ mô, đầu tư vào khoa học công nghệ và đổi mới nhằm tạo ra các giá trị gia tăng, hoàn thiện khuôn khổ pháp luật nhằm tăng cường sức cạnh tranh quốc gia và cung cấp lực lượng lao động, cơ sở hạ tầng, mạng lưới logistic và công nghệ thông tin chất lượng quốc tế.

– Tăng cường sức cạnh tranh thông qua tận dụng lợi ích của quá trình hội nhập ASEAN.

Thứ hai: Tăng trưởng toàn diện. Mục tiêu là giảm bất bình đẳng và phân phối lợi ích của tăng trưởng toàn diện. Các biện pháp chính bao gồm:

– Tạo cơ hội tiếp cận nguồn lực và cơ sở hạ tầng, từ đó tạo ra việc làm và bảo đảm thu nhập.

– Tạo cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội chất lượng.

– Bình đẳng trước pháp luật

– Bảo vệ quyền lợi của công nhân Thái Lan để chuẩn bị cho việc tham gia cộng đồng ASEAN

– Thiết lập tiêu chuẩn lao động quốc tế để hỗ trợ di cư lao động trong tương lai.

– Hợp tác hiệu quả để ngăn chặn khủng bố, tội phạm, ma túy, thảm họa và dịch bệnh.

Thứ ba: Chiến lược tăng trưởng xanh tập trung vào phát triển thân thiện với môi trường. Các biện pháp chính bao gồm:

– Giảm tiêu thụ năng lượng trong khu vực công nghiệp, vận tải và hộ gia đình.

– Tăng cường sử dụng năng lượng sạch

– Chuyển dần sang nền sản xuất ít các-bon.

– Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và tăng diện tích trồng rừng, giảm thiểu khí nhà kính.

– Thích nghi và đối phó với biến đổi khí hậu toàn cầu.

– Hợp tác tích cực trong khu vực để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững không gây hại tới môi trường.

Thứ tư: Quản trị trong nước. Mục tiêu là cải cách hệ thống hành chính công. Các biện pháp bao gồm:

– Thống nhất các chiến lược tại mọi cấp nhằm thống nhất quản lý vì mục tiêu chung.

– Kết nối chương trình nghị sự với các chiến lược theo khu vực, phù hợp với nhu cầu địa phương để nhân dân được hưởng phúc lợi xã hội trọn đời.

– Tăng cường năng lực chính phủ, củng cố luật lệ và quy định tiên tiến, tăng cường hệ thống luật pháp hiệu quả, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế và hội nhập ASEAN.

Như vậy, trước sự thay đổi của bối cảnh quốc tế và những vấn đề của bản thân MHTT cũ cùng những đòi hỏi mới ở trong nước, để có thể thoát được bẫy thu nhập trung bình, tạo ra sự ổn định và đưa Thái Lan thành nước có thu nhập cao, công bằng và phát triển, các chính phủ nước này gần đây cũng đã cố gắng có những chính sách và định hướng chuyển hướng chiến lược quan trọng. Sau đây là những lĩnh vực chính sách mà Thái Lan xác định là quan trọng và then chốt để đảm bảo đạt được sự TTKT cao và bền vững trong tương lai:

– Đa dạng hóa thị trường, giảm dần sự phụ thuộc vào các thị trường Mỹ và EU để quay sang các thị trường khu vực, tiếp tục duy trì tính cạnh tranh tại châu Á và tập trung nhiều hơn vào nền kinh tế nội địa;

– Tái cơ cấu ngành kinh tế theo hướng: i) Tái cơ cấu sản xuất nhằm nâng cao NSLĐ và tăng thêm giá trị cho các hàng hóa và dịch vụ, trên cơ sở tri thức bản địa và văn hóa Thái Lan; ii) xây dựng các hệ thống miễn nhiễm và quản lý rủi ro cho các lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ, thị trường tài chính, tài nguyên thiên nhiên, cũng như hệ thống tài khóa; iii) phát triển nông nghiệp thành cơ sở cung cấp lương thực an toàn và đầy đủ cho thế giới; iv) nâng cao chuỗi giá trị trong công nghiệp, thông qua việc phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ, hợp nhất các khu vực khác nhau như phát triển các cụm công nghiệp và ứng dụng các công nghệ giảm tiêu thụ năng lượng và tài nguyên thiên nhiên nhằm bảo vệ môi trường.

– Khuyến khích tiết kiệm trong nước để tăng cường năng lực đầu tư của quốc gia và thực hiện an sinh xã hội, và giảm bớt mức độ phụ thuộc vào vốn nước ngoài, nhất là vốn vay và vốn cổ phần ngắn hạn.

– Quản lý hợp lý tài chính để tạo ra cân đối ngân sách trong tầm trung hạn và tạo điều kiện cho sản xuất trong nước bằng cách huy động vốn theo hướng hình thành các khu vực hiệu quả.

– Tái cơ cấu hình thức phân phối theo hướng cạnh tranh và phân phối của cải bình đẳng và thúc đẩy phân phối công bằng các lợi ích kinh tế do tăng trưởng mang lại.

– Nâng cao hiệu quả tiêu thụ năng lượng và phát triển các nguồn năng lượng thay thế nhằm giảm mức độ nhạy cảm về năng lượng và mức độ phụ thuộc vào nhập khẩu.

3. Những chính sách đã thực hiện

– Thái Lan đã theo đuổi chính sách tự do hóa dựa trên việc thực thi một loạt các chiến lược tiếp cận thị trường thích hợp, nhưng chỉ tập trung vào một số ngành và một số sản phẩm trong mỗi ngành mà nước này có thế mạnh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh để từ đó gia tăng xuất khẩu. Thái Lan chọn lựa 5 ngành công nghiệp có thế mạnh là du lịch, sản xuất ô tô, thực phẩm, thời trang, và phần mềm. Với ngành ô tô, để biến Thái Lan trở thành “Detroit của châu Á”, chính phủ Thái Lan chủ trương nâng cao giá trị gia tăng thông qua việc chuyên môn hóa sản xuất xe bán tải. Với ngành du lịch, Thái Lan hướng đến phát triển loại hình du lịch MICE – du lịch kết hợp hội nghị, hội thảo, sự kiện,… sử dụng các lợi thế về văn hóa, con người, tài nguyên du lịch, để trở thành điểm đến du lịch MICE hấp dẫn nhất khu vực. Với ngành thời trang, Thái Lan áp dụng chiến lược nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm thông qua cải thiện tay nghề cho công nhân và xây dựng các thương hiệu thể hiện truyền thống của dân tộc Thái Lan.

Rõ ràng tăng cường tính cạnh tranh chính là bước đầu tiên trong hành trình hướng tới phát triển bền vững của Thái Lan và các quốc gia láng giềng. Thái Lan là 1 trong 10 thành viên của ASEAN. Ba trụ cột trong Cộng đồng ASEAN và Kế hoạch tổng thể về Kết nối ASEAN sẽ góp phần tạo ra một thị trường và mạng lưới sản xuất chung, qua đó giúp hình thành chuỗi cung ứng khu vực và tăng cường tính cạnh tranh của các nền kinh tế ASEAN. Mặc dù mỗi nước có thế mạnh cạnh tranh riêng, ASEAN chỉ có thể đạt được mức độ cạnh tranh cao hơn và phát huy hết tiềm năng thông qua tăng cường kết nối.

Trong chính sách kinh tế vĩ mô, Thái Lan xác định xuất khẩu là động lực phát triển nền kinh tế với kim ngạch xuất khẩu chiếm 60% GDP. Xuất khẩu của Thái Lan năm 2015 đạt 214 tỉ USD, năm 2016 đạt 214 tỉ USD, năm 2017 đạt 235 tỉ USD. Nhập khẩu năm 2015 đạt 187 tỉ USD, năm 2016 đạt 178 tỉ USD, năm 2017 đạt 203 tỉ USD. Trong đó, 10 mặt hàng xuất khẩu chính của Thái Lan bao gồm lúa gạo; hải sản; ôtô và phụ tùng ôtô; đá quý và trang sức; sản phẩm từ cao su; hóa phẩm; nhiên liệu; phụ tùng máy móc; điều hòa nhiệt độ và linh kiện; sắt và thép. Các đối tác thương mại chính của Thái Lan (dựa trên số liệu thống kê về xuất nhập khẩu) là: Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, Hồng Kông, Việt Nam, Australia, Malaysia, Indonesia, Singapore, Philippine.

Hiện nay, Thái Lan đang tập trung triển khai nền kinh tế 4.0 với mục tiêu tăng cường đầu tư vào hạ tầng kỹ thuật số để tạo thuận lợi cho sự phát triển kinh tế; thay đổi về luật pháp để hỗ trợ đổi mới sáng tạo; đầu tư và xây dựng mạng lưới hạ tầng thông tin tại Thái Lan và khu vực xuyên biên giới. Bên cạnh đó, Thái Lan tích cực phát triển các hành lang kinh tế nhằm kết nối Thái Lan với tiểu vùng Mê Kông và khu vực, bao gồm Hành lang Kinh tế Đông Tây, Hành lang Kinh tế phía Nam và Hành lang Kinh tế phía Đông. Trong đó, chiến lược Hành lang Kinh tế phía Đông đang được Thái Lan thúc đẩy mạnh mẽ nhằm kết nối vào Sáng kiến “vành đai con đường” của Trung Quốc.

Các hiệp định thương mại tự do mà Thái Lan đang tham gia gồm: Hiệp định Thương mại tự do ASEAN (AFTA); FTA Thái Lan – Australia (1/2005); FTA Thái Lan – Newzealand (4/2005); FTA Thái Lan – Nhật Bản (4/2007); FTA Thái Lan – Trung Quốc; FTA Thái Lan – Peru và FTA Thái Lan – Chile,… Biện pháp phòng vệ thương mại được Thái Lan sử dụng nhiều nhất trong 10 năm qua là chống bán phá giá. Điển hình gần đây nhất là các đề xuất chống bán phá giá của ngành thép Thái Lan trước quyết định của Mỹ về việc đánh thuế cao đối với thép nhập khẩu.

Các biện pháp kỹ thuật thường được Thái Lan áp dụng để bảo hộ hàng hóa nội địa là sử dụng hàng rào thuế quan và phi thuế quan. Với hàng rào thuế quan, Thái Lan áp dụng mức thuế rất cao đối với tất cả hàng nhập khẩu. Về hàng rào phi thuế quan, Thái Lan thường có nhiều yêu cầu khắt khe về giấy phép hoặc những đòi hỏi về thủ tục nhập khẩu quá rườm rà. Ngoài ra, Thái Lan còn sử dụng các biện pháp khống chế giá và cách tính thuế nhiều lần dựa trên một cấu trúc thuế rất phức tạp. Các tiêu chí về vệ sinh, an toàn thực phẩm cũng được Thái Lan áp dụng một cách triệt để. Các mặt hàng bị áp dụng nhiều nhất về hàng rào kỹ thuật chống bán phá giá là thép, hợp chất phthalic anhydride, acid citric, đèn hình màu và thủy tinh khối. Đối tác bị áp dụng nhiều nhất là các nước EU và Mỹ.

– Chính phủ Thái Lan kiên trì thực hiện các cải cách chính sách tài chính và tiền tệ một cách linh hoạt, giúp nước này vượt qua các cú sốc về kinh tế. Là quốc gia có nền kinh tế phụ thuộc quá lớn vào đầu tư nước ngoài và thương mại quốc tế, nên khi khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008-2009 xảy ra thì nền kinh tế Thái Lan cũng bị chao đảo theo và một lần nữa đứng trước nguy cơ suy thoái sâu và kéo dài, chính phủ Thái Lan đã phải áp dụng các biện pháp cứu trợ cho khu vực tài chính, áp dụng các chính sách tiền tệ và tài khóa linh hoạt khác. Ví dụ, các biện pháp cứu trợ tài chính như:

(i) để tăng tính thanh khoản và giải quyết nợ của các tổ chức tài chính bằng biện pháp tiến hành bảo hiểm mới hoặc tăng mức phí bảo hiểm đối với các khoản tiền gửi nhằm làm giảm khả năng sụp đổ hay phá sản của các ngân hàng thương mại, các tổ chức tài chính công. Các khoản bảo hiểm nợ của chính phủ cho phép các ngân hàng phát hành trái phiếu mới để thu vốn nhằm giải quyết khó khăn về vốn;

(ii) chính phủ mua lại cổ phiếu mới do các ngân hàng đang gặp khó khăn và rủi ro cao về tài chính phát hành;

(iii) chính phủ đồng ý mua lại tài sản có vấn đề từ các tổ chức tài chính lớn hoặc hỗ trợ cung cấp bảo hiểm cho tài sản đó nhằm tránh khả năng thua lỗ đối với một số danh mục tài sản vốn đầu tư. Đối với chính sách tiền tệ, chính sách hạ lãi suất tiền vay đến mức thấp nhất được đưa ra nhằm giúp các doanh nghiệp tháo gỡ khó khăn và có điều kiện hơn trong việc tiếp cận vốn vay lãi suất thấp. Đối với chính sách tài khóa, chính sách này đưa ra nhằm hỗ trợ và kích thích tổng cầu trong nước. Về cơ bản, biện pháp này nhằm tăng khoản chi tiêu tài chính cho chính phủ trong năm tài khóa 2009 để khuyến khích đầu tư cho các dự án kinh tế có khả năng tạo việc làm, cải thiện hệ thống an sinh xã hội và giúp nền kinh tế phục hồi và tăng trưởng trở lại.

Bằng những nỗ lực thực hiện và sử dụng các chính sách tiền tệ và tài khóa linh hoạt cùng với các hình thức cứu trợ tài chính khẩn cấp, nền kinh tế Thái Lan đã nhanh chóng thoát khỏi khủng hoảng. Tuy nhiên, điều này cũng buộc chính phủ Thái Lan phải nhìn nhận lại những bất ổn đối với tính bền vững về kinh tế của quốc gia. Nhằm thiết lập một nền tảng vững chắc cho tăng trưởng trong dài hạn và giúp Thái Lan có khả năng đối phó được với những cú sốc kinh tế, chính phủ Thái Lan đã hướng nền kinh tế theo đường lối phát triển bền vững hơn, theo đó đường lối phát triển bền vững đi theo hướng phát triển vừa đủ, hợp lý và có khả năng chống chịu được với những thay đổi bên trong và bên ngoài.

– Chính phủ Thái Lan đưa ra những chính sách phát triển nguồn nhân lực, khoa học và công nghệ và được lồng ghép vào các kế hoạch 5 năm của nước này nhằm cải thiện tình trạng năng suất lao động thấp,. Chính phủ Thái Lan đã dành một khoản ngân sách khá lớn để đầu tư cho giáo dục và khoản ngân sách đó được tăng đều qua các năm. Những cải cách sâu rộng của Chính phủ Thái Lan tập trung vào:

(i) Nâng cao chất lượng giáo dục nhằm thu hẹp khoảng cách giữa chất lượng trường học và chất lượng giáo viên, giữa khu vực đô thị và khu vực nông thôn;

(ii) hỗ trợ tài chính và đưa ra các chương trình cải cách giáo dục thiết thực như chương trình giáo dục miễn phí 15 năm (năm 2009) nhằm giúp sinh viên trong các hộ gia đình nghèo có cơ hội đến trường…

Do chú trọng đầu tư cho giáo dục nên số lượng học sinh vào đại học đã cải thiện đáng kể so với các nước khác trong khu vực. Trên cơ sở đó, chính phủ đã đề ra mục tiêu đến năm 2020 là nâng tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp đại học so với lứa tuổi lên khoảng 40% [Trương Duy Hòa (2009)]. Giáo dục có chất lượng cao sẽ là tiền đề cho khoa học và công nghệ phát triển. Trong bối cảnh một quốc gia muốn gia tăng lượng hàng hóa xuất khẩu theo hướng sản phẩm xuất khẩu hàm chứa hàm lượng kỹ thuật cao, sáng tạo có tính đặc trưng, Chính phủ Thái Lan đã cho thành lập một bộ riêng với tên Bộ Khoa học, công nghệ và năng lượng để chuyên tập trung vào chính sách phát triển khoa học và công nghệ. Ngoài ra, chính phủ Thái Lan còn cho thành lập Cục phát triển khoa học và công nghệ quốc gia với chức năng tập trung cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai,… Tất cả những chính sách điều chỉnh này đã góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và năng lực công nghệ quốc gia của Thái Lan.

– Ngoài ra, tái cơ cấu kinh tế theo đường lối phát triển bền vững đã được đưa vào các kế hoạch 5 năm của Thái Lan. Với Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ 10 (2007-2011), Chính phủ Thái vẫn tiếp tục thực hiện triết lý về “nền kinh tế đầy đủ”, song với phương pháp tiếp cận lấy nguồn nhân lực làm trung tâm cho phát triển nhằm tạo ra một “Xã hội Xanh và Hạnh phúc” [Nguyễn Huy Hoàng (2010)]. (Triết lý về “nền kinh tế đầy đủ” được đưa ra từ sau khủng hoảng tài chính, tiền tệ châu Á và được tiếp tục đẩy mạnh trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 9 (2002-2006) với bốn trụ cột chính là bảo trợ xã hội, tăng cường cạnh tranh, nâng cao khả năng quản trị và bảo vệ môi trường). Và đến Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ 11 (2012-2016), Chính phủ Thái Lan vẫn duy trì theo đuổi chiến lược đã chọn, nhưng với một tầm nhìn toàn diện hơn về “một xã hội hạnh phúc, bình đẳng, công bằng và khả năng phục hồi nhanh”.

Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm lần thứ 11 của Thái Lan nhằm đảm bảo rằng mỗi người dân, đều có cơ hội và khả năng tiếp cận các nguồn lực như nhau và cùng được chia sẻ một cách công bằng những lợi ích từ quá trình TTKT đem lại. Trong kế hoạch này, vấn đề tái cơ cấu kinh tế được đề cập rất rõ nhằm đạt được sự tăng trưởng có chất lượng và bền vững. Chính phủ Thái Lan xác định tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng sử dụng lợi thế so sánh của quốc gia kết hợp với kiến thức khoa học và công nghệ.

Các chiến lược về tái cơ cấu kinh tế của Thái Lan tập trung vào:

Thứ nhất, tái cơ cấu ngành kinh tế theo hướng: i) tái cơ cấu sản xuất nhằm nâng cao NSLĐ và tăng thêm giá trị cho các hàng hóa và dịch vụ, trên cơ sở tri thức bản địa và văn hóa Thái Lan; ii) xây dựng các hệ thống miễn nhiễm và quản lý rủi ro cho các lĩnh vực hàng hóa và dịch vụ, thị trường tài chính, tài nguyên thiên nhiên, cũng như hệ thống tài khóa; iii) phát triển nông nghiệp hướng đến trở thành cơ sở lương thực an toàn và đầy đủ cho thế giới; iv) nâng cao chuỗi giá trị trong công nghiệp, thông qua hợp nhất các khu vực khác nhau như phát triển các cụm công nghiệp và ứng dụng các công nghệ, giảm tiêu thụ năng lượng cũng như sử dụng tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường.

Thứ hai, tái cơ cấu đầu tư theo hướng khuyến khích tiết kiệm trong nước để tăng cường năng lực đầu tư của quốc gia và thực hiện an sinh xã hội, và giảm bớt mức độ phụ thuộc vào vốn nước ngoài, nhất là vốn vay và vốn cổ phần ngắn hạn. Tái cơ cấu quản lý thích đáng tài chính để tạo ra cân đối ngân sách trong tầm trung hạn và tạo điều kiện cho sản xuất trong nước bằng cách huy động vốn theo hướng hình thành các khu vực hiệu quả.

Thứ ba, tái cơ cấu hình thức phân phối theo hướng cạnh tranh và phân phối của cải bình đẳng và thúc đẩy phân phối công bằng các lợi ích kinh tế của toàn bộ tăng trưởng trong toàn xã hội.

– Chính phủ Thái Lan đã áp dụng chính sách phát triển cân bằng vùng thông qua việc giải tỏa sự tập trung quá mức các hoạt động kinh tế, thương mại, tài chính ở Băng Cốc và một số vùng phụ cận nhằm giải quyết vấn đề chênh lệch phát triển giữa các vùng. Chính phủ Thái Lan đã thông qua chính sách đầu tư phát triển nhiều khu vực khác ngoài các đô thị lớn. Toàn bộ Thái Lan được quy hoạch thành ba vùng: Vùng 1 gồm Băng Cốc và 6 tỉnh xung quanh; vùng 2 gồm 10 tỉnh lân cận vùng 1; và vùng 3 là phần còn lại. Trong ba vùng trên, chỉ có vùng 3 – vùng khó khăn nhất được hưởng chế độ thuế và thuế quan ưu đãi nhất.

Chính sách phát triển vùng dựa vào đặc trưng của vùng cũng được chính quyền Thaksin đưa ra. Theo đó, chính quyền Thaksin đã tập trung tăng cường sức mạnh cho các vùng thông qua khai thác tính khác biệt của nó. Để tạo điều kiện cho các địa phương tăng tính chủ động trong việc khai thác thế mạnh của mình, chính phủ cho thành lập quỹ thôn. Mỗi quỹ được cấp 1 triệu baht với mức lãi suất thấp hơn so với mức hiện hành. Cả nước có khoảng 70.000 thôn được cấp vốn lập quỹ. Nguồn vốn từ quỹ này được sử dụng vào các dự án nhằm tăng cường tiềm lực kinh tế của địa phương [Nguyễn Huy Hoàng (2015)].

Để tạo ra một môi trường giáo dục tốt hơn và tiếp cận y tế công bằng hơn đối với mọi người, đặc biệt là đối với người nghèo, chính phủ Thái Lan đã có những cải cách sâu rộng hơn tập trung vào:

(i) Nâng cao chất lượng giáo dục nhằm thu hẹp khoảng cách giữa chất lượng trường học và chất lượng giáo viên, giữa khu vực đô thị và khu vực nông thôn;

(ii) hỗ trợ tài chính và đưa ra các chương trình cải cách giáo dục thiết thực như chương trình giáo dục miễn phí 15 năm (đưa ra năm 2009) nhằm giúp sinh viên thuộc các hộ gia đình nghèo có cơ hội đến trường.

– Do tình trạng ô nhiễm môi trường đã hết sức nghiêm trọng và phải giải quyết cấp bách, nên trong các chiến lược và kế hoạch gần đây Thái Lan đã suy nghĩ lại sự phát triển tương lai của mình và chuyển sang MHTT xanh, nhấn mạnh hơn đến sự cân bằng giữa TTKT và bền vững về môi trường. Theo hướng đó, Thái Lan đã đầu tư nhiều hơn vào công nghệ xanh, để không những thúc đẩy được TTKT trong nước, mà tiềm năng còn là nguồn thu xuất khẩu tốt khi công nghệ này trở nên chín muồi và có thể đem bán được. Có nhiều lĩnh vực trong công nghệ xanh mà ở đó Thái Lan có những lợi thế so sánh về thiên nhiên, như năng lượng mặt trời, năng lượng sinh học, và nông nghiệp hữu cơ.Hai sáng kiến chính sách có ý nghĩa về tăng trưởng xanh gần đây đã được Thái Lan thực hiện. Thứ nhất là phát động Kế hoạch Phát triển xã hội và quốc gia lần thứ 11 trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến tăng trưởng xanh. Kế hoạch này gồm 4 trụ cột nhằm thúc đẩy tăng trưởng carbon thấp ở Thái Lan:

(i) Điều chỉnh cơ cấu kinh tế của đất nước vì sự tiêu hao ít năng lượng (nhất là năng lượng không thể tái sinh) và thải ra ít cácbon hơn;

(ii) Phát triển các thành phố cácbon thấp;

(iii) Thực hiện hiệu quả năng lượng cao và phổ biến rộng rãi các công nghệ cácbon thấp;

(iv) Khuyến khích lối sống hiệu quả về năng lượng và bền vững.

Sáng kiến thứ hai là Luật môi trường mới – Đạo luật tài chính môi trường (Environment Fiscal Act) – do Bộ Tài chính soạn thảo, nhằm sử dụng các công cụ tài chính để khuyến khích các hành vi và hoạt động kinh tế Xanh hơn. Dự luật này bao gồm 6 biện pháp tài chính, từ các loại thuế đánh vào tiêu dùng và sản xuất các hàng hoá và dịch vụ gây ô nhiễm, các khoản phí quản lý môi trường, việc buôn bán quyền phát thải các chất gây ô nhiễm và các khoản trợ cấp cho các sản phẩm và hoạt động thân thiện với môi trường.

Ngoài ra, những biện pháp khác để hạn chế việc phát thải khí cácbon, như những khuyến khích về thuế và các biện pháp trợ cấp do Cục Đầu tư (Board of Investment) phụ trách, các khoản trợ cấp đầu tư thông qua Bộ Năng Lượng, hay các khoản cho vay mềm thông qua Quỹ tái sinh hiệu quả năng lượng và Quỹ công ty dịch vụ năng lượng (ESCO) đã được thực hiện. Trong suốt thời kỳ 2003-2010, Quỹ tái sinh hiệu quả năng lượng đã hỗ trợ cho 335 dự án hiệu quả năng lượng và 112 dự án năng lượng tái sinh, với tổng năng lượng tiết kiệm ước đạt là trên 154 triệu USD/năm và với thời kỳ hoàn trả trung bình là gần 3 năm [World Bank and NESDB (2011)].

– Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp như:

(i) Tăng cường vai trò các cá nhân và các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp. Tạo ra nhiều cơ hội đầu tư cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vào ngành nông nghiệp, từ sản xuất các loại cây trồng như lúa, cao su, vận chuyển đường thủy quốc tế, quản trị tưới tiêu, sinh dược và công nghệ xanh;

(ii) Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nông dân, đẩy mạnh phong trào học tập, nâng cao trình độ của từng cá nhân và tập thể bằng cách mở các lớp học và các hoạt động chuyên môn trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn;

(iii) Tăng cường công tác bảo hiểm xã hội cho nông dân, giải quyết tốt vấn đề nợ trong nông nghiệp;

(iv) giảm nguy cơ rủi ro và thiết lập hệ thống bảo đảm rủi ro cho nông dân. Đối với các sản phẩm nông nghiệp, Nhà nước đã hỗ trợ để tăng sức cạnh tranh với hình thức như: Tổ chức hội chợ triển lãm hàng nông nghiệp, đẩy mạnh công tác tiếp thị,…

Chính phủ Thái Lan thực hiện mở rộng cửa để thu hút các nhà đầu tư vào lĩnh vực chế biến nông sản, chú trọng đến những công nghệ hiện đại để tạo nên những sản phẩm có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường lớn. Do vậy, hàng nông sản của Thái Lan rất đa dạng, có độ tin tưởng về an toàn vệ sinh thực phẩm, mẫu mã đẹp và được chấp nhận ở các thị trường khó tính như EU, Mỹ, Nhật Bản. Chính phủ trú trọng đến việc mở rộng thị trường để thu hút mạnh đầu tư nước ngoài cho nông nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến thực phẩm, với chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào các kết cấu hạ tầng như cảng, kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư cho nghiên cứu, phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp. Không chỉ chú trọng FDI, đầu tư tư nhân vào các hoạt động nghiên cứu nông nghiệp cũng được khuyến khích. Chính phủ Thái Lan chủ trương khuyến khích các công ty tư nhân phát triển công nghệ mới trong nông nghiệp, giải phóng các nguồn lực công cộng để dành cho những ưu tiên khác.

– Về xây dựng kết cấu hạ tầng, Thái Lan đã có xây dựng và phân bố hợp lý các công trình thủy lợi lớn phục vụ cho nông nghiệp. Hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới tiêu cho hầu hết đất canh tác trên toàn quốc, góp phần nâng cao năng suất lúa và các loại cây trồng khác trong sản xuất nông nghiệp. Chương trình điện khí hóa nông thôn với việc xây dựng các trạm thủy điện vừa và nhỏ được triển khai rộng khắp cả nước,…

– Thái Lan đã chi 20 tỷ Bath (khoảng 667 triệu USD) để gia tăng tỷ lệ đóng góp của kinh tế sáng tạo vào GDP từ 12% năm 2010 lên 20% vào năm 2012, chọn 15 nhóm ngành công nghiệp để thúc đẩy phát triển kinh tế sáng tạo, trong đó có các ngành thủ công mỹ nghệ, du lịch, y học truyền thống, ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn, âm nhạc, thiết kế, thời trang và kiến trúc; chuyên môn hóa trên 10 lĩnh vực khác nhau và được thiết lập với sự hợp tác của các trường đại học ở Thái Lan [Lê Đăng Minh, 2018].

Thái Lan đã đưa ra Kế hoạch phát triển kinh tế tư nhân lần thứ nhất, nhằm giúp gia tăng lòng tin cho các nhà đầu tư vào môi trường kinh doanh ở Thái Lan và nâng cao vai trò của họ trong nền kinh tế. Đây là lần đầu tiên khu vực tư nhân Thái Lan có kế hoạch phát triển kinh tế riêng, tập trung gia tăng sức cạnh tranh; hoàn thiện cơ cấu kinh tế; phát triển tri thức; khuyến khích đạo đức kinh doanh và điều hành tốt; bảo vệ môi trường và chất lượng cuộc sống và bảo vệ phòng ngừa. Kế hoạch chia hoạt động kinh tế của Thái Lan thành 18 khu vực các tỉnh mỗi khu vực gồm 7 lĩnh vực kinh doanh chính: Nông – ngư nghiệp – lương thực; dệt may; hàng trang sức; bất động sản – xây dựng; thương mại biên giới; y tế và du lịch – dịch vụ[Lê Đăng Minh, 2018].

4. Đánh giá về chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Thái Lan

4.1. Những thành tựu chủ yếu

Thực hiện chuyển đổi MHTTKT sau những tác động của cuộc KHKTTC, Thái Lan đã đạt được những thành tựu nhất định:

Chuyển đổi MHTTKT đã giúp Thái Lan cải thiện được tình trạng nghèo đói và có khả năng đáp ứng hầu hết các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs) khi tỷ lệ tử vong của phụ nữ có thai và trẻ em dưới 5 tuổi đã giảm đi rất nhiều; hơn 97% dân số, ở cả khu vực thành thị và nông thôn được tiếp cận với nước sạch. Nghèo đói ở Thái Lan chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn, tương đương với 7,3 triệu người nghèo (năm 2013) [Nguyễn Duy Dũng, 2016]. Bất bình đẳng xã hội ở Thái Lan mặc dù vẫn ở mức cao song đã giảm trong những năm gần đây. Năm 2014, hệ số Gini của Thái Lan là 0,45. Đặc biệt là sự bất bình đẳng giữa khu vực Bắc và Đông Bắc Thái Lan và thủ đô Băng Cốc.

Chuyển đổi MHTTKT góp phần cải thiện thu nhập của các hộ gia đình ở Thái Lan, tạo cho người dân có cơ hội đầu tư nhiều hơn để nâng cao chất lượng sống và giáo dục. Chất lượng giáo dục của Thái Lan đã có những cải thiện đáng kể nhờ vào thành quả của tăng trưởng kinh tế nhanh, biểu hiện ở mức chi cho giáo dục của chính phủ luôn tăng qua các năm. Điểm đáng chú ý là chính phủ Thái Lan đã nhận thức rõ được vấn đề chất lượng giáo dục thấp, từ đó có những điều chỉnh, cải cách và đầu tư hợp lý. Tỉ lệ chi cho giáo dục trong tổng chi của Thái Lan luôn tăng theo thời gian. Tính trung bình cho giai đoạn từ 1998-2012, chi cho giáo dục trong tổng các khoản chi của chính phủ Thái xấp xỉ khoảng 20%.

Trong giai đoạn 2012 – 2016, chi tiêu cho giáo dục của Thái Lan đã tăng lên trên 20% ngân sách. Nhờ đó, chất lượng giáo dục đã được cải thiện, số người đăng ký tham gia vào các cấp học không ngừng tăng và điều này đã góp phần giúp Thái Lan rút ngắn thứ hạng HDI so với các nước trong khu vực và thế giới. Theo Báo cáo phát triển con người năm 2015, năm 2014 Thái Lan đứng vị trí thứ 93/188 quốc gia về xếp hạng HDI và thuộc danh mục các nước có HDI cao [Võ thị Minh Lệ, 2016]. Tiếp cận giáo dục bậc cao là một trong những mô hình mà Thái Lan hướng tới trong suốt 5 thập kỷ qua, một mô hình học tập suốt đời nhằm phản ứng với những thay đổi toàn cầu.

Giáo dục bậc cao trong mỗi ngành nghề phản ánh nhu cầu gia tăng năng suất lao động của bộ phận người lao động, còn học tập suốt đời giúp người lao động Thái Lan phản ứng kịp thời đối với sự thay đổi ngành nghề cũng như công việc mới. Tuy nhiên, thách thức hiện nay đối với giáo dục và đào tạo nghề của Thái Lan chính là khả năng cung cấp số lao động có trình độ được đào tạo tốt và có khả năng chuyên môn cao nhằm đáp ứng với những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế.

Về tăng trưởng kinh tế, mặc dù giai đoạn 2014 – 2015 bị chậm lại do những bất ổn chính trị nội bộ; từ năm 2016 đến nay, nền kinh tế Thái Lan đã có sự phục hồi, tốc độ tăng trưởng GDP năm 2016 là 3,3% (412 tỉ USD), năm 2017 là 3,9% (455 tỉ USD) và Quý I/2018 là 4,8%. Lạm phát trong năm 2016 là 0,2%; 2017 là 0,7% và trong 6 tháng đầu năm 2018 là 1,5%. Triển vọng kinh tế Thái Lan hiện đang được các định chế tài chính quốc tế đánh giá tốt, tuy nhiên do tình hình chính trị nội bộ vẫn tiềm ẩn nhiều yếu tố rủi ro nên rất khó để dự báo về tăng trưởng thời gian tới; tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan trong năm 2018 không vượt quá 3,9% và dự báo năm 2019 khoảng 3,7%. Một số ngành kinh tế được Thái Lan xác định là trọng điểm gồm: Du lịch, nông ngư nghiệp (xuất khẩu gạo đứng thứ nhất thế giới, xuất khẩu hải sản đứng thứ ba thế giới), tự động hóa và phụ tùng ô tô, điện tử, thực phẩm và kinh doanh nông phẩm.

4.2. Những vấn đề tồn tại

Nghiên cứu về thực tiễn chuyền đổi MHTTKT cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thái Lan có xu hướng giảm dần, và nước này chỉ đạt được mục tiêu tăng trưởng nhanh trong một thời kỳ nhất định. Điều này thể hiện tính thiếu bền vững của tăng trưởng. Mặc dù sau KHKTTC, với những nỗ lực chuyển đổi MHTTKT, Thái Lan đã đạt được những thành tựu cơ bản, nhưng nhiều dấu hiệu cho thấy nước này đã rơi vào bẫy thu nhập trung bình và vẫn còn rất khó khăn để có thể thoát khỏi. Mặc dù ngày 1/7/2011, Ngân hàng Thế giới đã thông báo Thái Lan với mức thu nhập 4.210 USD/người/năm đã chuyển lên nhóm nước có thu nhập trung bình cao nằm trong nhóm các nước có mức thu nhập trung bình (điều kiện để được vào nhóm các nước này là có mức thu nhập quốc gia (GNI) bình quân/người /năm từ 3.976 USD đến 12.275 USD), nhưng để có thể đạt được mức thu nhập 10.000 USD/người/ năm, Thái Lan sẽ mất rất nhiều thời gian nữa. Điều đó cho thấy, mặc dù có những điều chỉnh, nỗ lực chuyển đổi MHTTKT, nhưng những điều chỉnh đó vẫn chưa thích ứng được với sự thay đổi của môi trường bên trong và bên ngoài. Thực tế đã chỉ rõ rằng, Thái Lan vẫn còn duy trì những biểu hiện của mô hình tăng trưởng trong giai đoạn thoát nghèo, đó là vẫn sử dụng chính sách phát triển dựa vào lao động giá rẻ và năng lực đổi mới thấp, biểu hiện cụ thể:

Thứ nhất là thiếu lao động, đặc biệt là lao động có trình độ, kỹ năng. Nguyên nhân của vấn đề này một mặt do thị trường đào tạo kỹ năng không hoàn hảo, mà cụ thể ở đây là cung không đáp ứng nổi cầu.

Thứ hai là tăng trưởng vẫn dựa nhiều vào tài nguyên. Mặc dù thời gian gần đây Thái Lan đã nỗ lực khuyến khích phát triển công nghệ xanh, nhưng tình trạng phát triển dựa vào sử dụng nguồn tài nguyên sẽ vẫn có những ảnh hưởng lâu dài.

Thứ ba là đầu tư thấp vào các hoạt động nghiên cứu và phát triển. Tỉ lệ chi cho đầu tư và phát triển của Thái Lan chỉ xấp xỉ 0,2% GDP trong thời gian qua [Somchai, (2012)]. Các doanh nghiệp tư nhân ít có khả năng cạnh tranh ở thị trường ngoài nước.

Thứ tư là thể chế kinh tế còn nhiều vấn đề hạn chế, mà thể hiện là độc quyền vẫn tồn tại trong các doanh nghiệp nhà nước, vẫn còn những luật lệ hạn chế sự cạnh tranh hoàn hảo trong những ngành quan trọng, mà đáng kể nhất là ngành tài chính và viễn thông. Sự giậm chân tại chỗ của khu vực tư nhân, khu vực vốn đã có sự tăng trưởng mạnh mẽ từ giai đoạn trước khủng hoảng tài chính toàn cầu. Chính sách tài khóa của Thái Lan cũng là một rào cản lớn cho đất nước này trong quá trình phát triển, bởi chính phủ Thái Lan thu thuế rất thấp, điều này hạn chế khả năng đầu tư của chính phủ vào sự phát triển cơ sở hạ tầng, hạn chế phát triển dài hạn.

Thứ năm là không duy trì được sự ổn định về kinh tế vĩ mô. Trong giai đoạn trước, sự ổn định về kinh tế vĩ mô ở Thái Lan gắn với sự ổn định về tỉ giá hối đoái và chính sách tài khóa khôn ngoan. Hiện tại, chính sách sử dụng “hệ thống tỷ giá hối đoái được quản lý linh hoạt”, thông qua nhiều cơ chế tác động, đã gây ra sự không ổn định về kinh tế vĩ mô.

Do những hạn chế kể trên, nên mặc dù đạt được những thành tựu nhất định trong tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, song Thái Lan vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức:

Về tăng trưởng kinh tế: Bên cạnh những điểm sáng tăng trưởng, bức tranh kinh tế của Thái Lan vẫn còn nhiều vấn đề khó khăn. Kinh tế Thái Lan đang đối mặt với thách thức trong nỗ lực đạt được mục tiêu tăng trưởng, khi kinh tế nước này hứng chịu tác động tiêu cực do nhu cầu hàng hóa xuất khẩu giảm sút. Lĩnh vực xuất khẩu, vốn đóng góp hơn 60% GDP của Thái Lan, đã giảm 4,3% trong năm 2015 và tiếp tục sụt giảm trong năm 2016, 2017. Xét theo ngành/khu vực kinh tế, trong năm 2016, ngành nông nghiệp giảm 1,5% do tình trạng hạn hán kéo dài.

Chênh lệch giàu nghèo gia tăng, lĩnh vực y tế còn nhiều bất cập, mâu thuẫn xã hội, bất ổn chính trị, ô nhiễm môi trường: Những thành quả của tăng trưởng kinh tế không được phân chia một cách công bằng, khoảng cách giàu nghèo ở Thái Lan ngày càng lớn. Ngân hàng thế giới đã đưa Thái Lan vào danh sách một trong năm nước có sự chênh lệch giàu nghèo lớn nhất trên thế giới. Quá trình công nghiệp hóa – đô thị hóa cũng đào sâu thêm hố sâu ngăn cách giữa thành thị và nông thôn, sự cách biệt về lối sống, thu nhập, giữa thành thị và nông thôn ngày càng nhiều. Sự mất cân bằng trong lao động do lao động đổ dồn về các thành phố lớn cũng là vấn đề đáng quan tâm. Mặc dầu hiện nay Thái lan có những chính sách phát triển nông thôn, lập nên những khu du lịch ở vùng sâu vùng xa nhưng kết quả thu được không lớn. Sự chênh lệch hầu như không giảm.

Ngân hàng Thế giới cho biết, hơn 70% chi tiêu công của Thái Lan năm 2010 được chi cho khu vực thủ đô Bangkok, nơi chỉ chiếm chưa đến 17% tổng dân số cả nước. Đây là tỷ lệ đầu tư công cho thủ đô thuộc hàng cao nhất thế giới. Trong khi chỉ có 1% người dân Băng Cốc sống dưới mức nghèo khổ, thì tỉ lệ này ở vùng Đông Bắc Thái Lan lại cao tới 13%. Ở Thái Lan, 10% số người nghèo nhất chỉ sở hữu 2,6% tài sản quốc gia, nhưng 10% người giàu nhất lại chiếm đến 33,7% tổng tài sản quốc gia [Nguyễn Duy Dũng, 2016]. Điều này cho thấy sự phân hóa xã hội sâu sắc giữa người giàu và người nghèo ở Thái Lan, giữa khu vực nông thôn với thành thị, giữa nghề nông với các ngành nghề dịch vụ khác. Mặc dù đã rất nỗ lực trong quá trình thu hẹp bất bình đẳng giữa các khu vực, song đây vẫn là một trong những vấn đề Chính phủ Thái Lan cần tiếp tục quan tâm giải quyết.

Tham khảo thêm

  1. Đặng Thành Chung (2020). Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Thái Lan và Malaysia sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam. Luận án tiến sĩ Kinh tế (Chuyên ngành Kinh tế Quốc tế). Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Hà Nội.
  2. The World Bank (2015, 2016), World Development Indicators.
  3. Trương Duy Hòa (2009), Kinh tế Thái Lan: Một số chính sách công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu trong ba thập niên cuối thế kỷ XX, Nhà xuất bản thế giới, Hà Nội.
  4. UNESCO Bangkok (2013), Thailand: UNESCO Country Programming Document for Thailand 2013-2015, Living Document.
  5. Lê Đăng Minh (2018), Kinh tế – xã hội các nước Đông Nam Á, Nxb Kinh tế tp. Hồ Chí Minh.
  6. Nguyễn Huy Hoàng (2010), Một số vấn đề nổi bật của kinh tế Thái Lan giai đoạn 2001-2010, Nghiên cứu Đông Nam Á, Số 11 (128).
  7. Nguyễn Huy Hoàng (2015), Chính sách tăng trưởng xanh ở một số nước ASEAN trong bối cảnh tái cấu trúc nền kinh tế và ứng phó với biến đổi khí hậu, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  8. Nguyễn Duy Dũng, 2016, “Phát triển xã hội và quản lý phát triển xã hội ở các nước Đông Nam Á, kinh nghiệm cho Việt Nam”, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
  9. Somchai và cộng sự (2012), “Thailand in a Middle-Income Trap”, TDRI Quarterly Review, June, 13-20pp.
Bài viết liên quan / hoặc cùng chủ đề