Từ những bài học kinh nghiệm rút ra từ thực tiễn các nước Malaysia, Thái Lan và những gợi mở bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, bài viết đề xuất 4 nhóm giải pháp chủ yếu nhằm tiếp tục chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2030

1. Tiếp tục thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế

Đối với Việt Nam, thực chất của chuyển đổi MHTTKT là nâng cao trình độ hiện đại của nền kinh tế, thay đổi quan hệ tỷ lệ hiện đại (theo cả chiều dọc lẫn chiều ngang liên ngành) giữa các yếu tố cấu thành nền kinh theo hướng tiến bộ. Cụ thể là:

Một là, tái cấu trúc kinh tế theo ngành, nghề

Để thực hiện MHTT đến năm 2030 với cơ cấu kinh tế “mở”, hiện đại thì chúng ta cần hướng tới các giải pháp tiếp tục tái cơ cấu ngành kinh tế theo hướng “mở”.

– Lựa chọn và hình thành danh mục các ngành sản phẩm mũi nhọn. Việt Nam phải thực hiện thành công trên thực tế việc hiện đại hóa các ngành, nghề có lựa chọn. Hình thành cơ cấu ngành, nghề hiện đại với những ngành, nghề chủ lực, có tác dụng góp phần quyết định tăng nhanh GDP quốc gia và có sức lôi kéo sự phát triển của các ngành, các lĩnh vực còn lại. Theo hướng đó, phấn đấu tỷ trọng của ngành phi nông nghiệp chiếm trong tổng GDP của cả nước đạt mức 85% (trong đó khu vực dịch vụ phải chiếm khoảng 40 – 42%).

Nền kinh tế có thể đạt tốc độ tăng trưởng khoảng 8% và cao hơn, kim ngạch xuất khẩu tăng trung bình khoảng 15 – 18%, GDP bình quân đầu người có thể đạt trên 3.000 USD vào năm 2020. Việt Nam cần kiên quyết đầu tư thỏa đáng cho hiện đại hóa, đạt mức của Malaysia hoặc ít nhất cũng đạt mức của Thái Lan. Phải phấn đầu đến năm 2020, đóng góp của các doanh nghiệp có công nghệ hiện đại khoảng 30 – 35% GDP và tiếp tục tăng trong các năm tiếp theo. Thực hiện thành công việc hiện đại hóa các ngành/lĩnh vực quan trọng. Việc hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và nâng cao trình độ quản trị quốc gia phải được đầu tư ưu tiên.

– Phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ để rút ngắn thời kỳ gia công, tăng dần các sản phẩm chế biến sâu có giá trị gia tăng cao trong các ngành chế biến. Trong thời gian tới, cần đặc biệt chú ý phát triển công nghiệp sản xuất nguyên liệu, sản phẩm phụ trợ. Có thể nói, phát triển mạnh công nghiệp hỗ trợ là điều kiện quan trọng để chủ động trong việc khai thác nguồn lực trong nước, giảm nhập khẩu, giảm xuất khẩu sản phẩm thô, đây là điều kiện để nâng cao giá trị gia tăng của ngành sản xuất sản phẩm của Việt Nam.

– Tái cấu trúc và nâng cao hiệu quả hàng hóa xuất khẩu: Cần chuyển đổi cơ cấu xuất khẩu, hướng đến các loại hàng hóa có giá trị gia tăng cao (các hàng hóa đã qua chế biến, hàng hóa có hàm lượng công nghệ và chất xám cao); chất lượng hàng hóa xuất khẩu cần phải được nâng lên. Trong thời gian tới, khi Việt Nam hội nhập ngày càng sâu rộng vào đời sống kinh tế thế giới, hàng hóa thâm nhập rộng rãi vào các thị trường khác nhau, chất lượng sản phẩm xuất khẩu phải đạt các chuẩn mức quốc tế đối với từng ngành cụ thể; mở rộng thị trường xuất khẩu, điều chỉnh chiến lược phát triển thị trường.

– Nâng cao mức độ đóng góp vào TTKT của ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ chất lượng cao: Theo kinh nghiệm của nhiều nước, tương quan giữa tỷ lệ tăng trưởng khối ngành sản xuất và ngành dịch vụ là 1-1,8, thậm chí các nước phát triển là 1–4. Tuy nhiên trong thời gian qua, con số này ở Việt Nam là 1–0,8. Trong giai đoạn tới, để thực hiện được mô hình tăng trưởng mới, cần phát triển mạnh ngành dịch vụ, nhất là dịch vụ chất lượng cao. Tập trung đầu tư phát triển một số ngành dịch vụ có nhiều lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như du lịch, hằng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, giáo dục, y tế chất lượng cao…

Hai là, tái cấu trúc theo thành phần kinh tế

Thành phần kinh tế Nhà nước của Việt Nam vẫn đang chiếm tỷ trọng cao trong nhiều lĩnh vực hoạt động của nền kinh tế. Thực tế cho thấy, thành phần kinh tế Nhà nước, chủ yếu là các DNNN, trong nhiều lĩnh vực hoạt động không hiệu quả bằng thành phần tư nhân. Mặt khác, các DNNN đang nhận được những ưu đãi đặc biệt của Nhà nước dẫn đến tình trạng không bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Điều đó làm méo mó các quy luật của thị trường, hạn chế việc phân bổ và sự dụng có hiệu quả các nguồn lực của xã hội.

Nhà nước cần xác định vai trò mới của mình, phù hợp với yêu cầu của một nền kinh tế thị trường năng động, đang trỗi dậy và đang hội nhập ngày càng sâu rộng. Nhà nước cần phải chuyển vai trò từ kiểm soát trực tiếp sang vai trò xây dựng lợi thế cạnh tranh cho một nền kinh tế thị trường. Nhà nước cần hướng tới tạo ra một điểm đến kinh doanh với các lợi thế cạnh tranh rõ ràng. Nhà nước tạo điều kiện để thị trường vận hành đúng theo các quy luật khách quan. Kinh tế Nhà nước là một bộ phận quan trọng, nhưng cần phải giảm bớt phạm vi, quy mô và xóa bỏ những ưu đãi giành cho DNNN. Thành phần kinh tế tư nhân phải được xác định là lực lượng chủ yếu trong phát triển kinh tế. Sự thay đổi tư duy này sẽ là mấu chốt cho việc thực hiện một mô hình tăng trưởng hướng tới hiệu quả và chất lượng cao.

Ba là, tái cấu trúc kinh tế theo lãnh thổ – nâng cao hiệu quả các vùng động lực tăng trưởng

Cải cách cơ cấu lãnh thổ của nền kinh tế theo hướng tập trung, hiệu quả. Không tiếp tục phát triển theo kiểu dàn đều như thời gian qua. Nhanh chóng tập trung đầu tư nhằm hình thành cho được một số lãnh thổ có ý nghĩa đầu tàu để lôi kéo sự phát triển của các lãnh thổ còn lại.

– Tiếp tục quy hoạch, sắp xếp, tổ chức lại các VKTTĐ (tái cấu trúc hệ thống VKTTĐ). Hiện nay, các VKTTĐ ở nước ta chưa thực sự trở thành động lực phát triển kinh tế của cả nước, chưa thể tạo ra được những bước đột phá trong thực hiện MHTT mới, chưa có khả năng thể hiện và khẳng định vị thế, sự lan tỏa hay chỗ dựa đáng tin cậy đối với cả nước. Điều này có một lý do mang tính cốt lõi đó là tư duy, quan điểm chưa thực sự hợp lý trong việc tổ chức xây dựng và phát triển các vùng trọng điểm. Quá trình hình thành và phát triển vùng trọng điểm vẫn bị chi phối nặng nề bởi quan điểm hành chính, mở rộng phạm vi không gian gắn với địa giới hành chính. Mặt khác, cơ chế chính sách riêng cho VKTTĐ hiện nay còn yếu và thiếu sức mạnh để cho các vùng này có những bước đi đột phá vững chắc. Trong thời gian tới, để thực hiện MHTT mới dựa trên nền tảng của các ngành mũi nhọn và vùng động lực, các VKTTĐ phải được củng cố, hoàn thiện và phát triển để thực sự trở thành những điểm đột phá về TTKT theo các hướng:

(i) Không nên tiếp tục mở rộng không gian của ba VKTTĐ hiện có, vì đó thực chất là đi trái với nguyên lý tổ chức các vùng động lực kinh tế hiện nay trên thế giới theo quan điểm địa kinh tế mới. Điều quan trọng nhất hiện nay là cần nhận dạng rõ nét những đặc trưng, những dấu hiệu của tính động lực trong từng vùng để xác định rõ tầm nhìn; tổ chức đồng bộ các yếu tố cấu thành để bảo đảm tính vững chắc trong phát triển trên cơ sở khai thác các động lực vốn có của từng vùng; sử dụng chính sách để tăng cường thu hút các đối tác trong nước và quốc tế.

(ii) Cần thiết phải có quan điểm đúng hơn khi đánh giá phát triển VKTTĐ, cụ thể là: Lấy tiêu chí về mức độ tập trung, mật độ đậm đặc về kinh tế thay cho tiêu chí và xu hướng mở rộng quy mô diện tích của vùng khi đánh giá sự phát triển của các VKTTĐ.

(iii) Quy hoạch lại cả ba VKTTĐ hiện có, trong đó một nội dung cần mạnh dạn triển khai là xem lại các thành phần trong vùng trọng điểm hiện nay, để đưa một số địa phương trên một số tỉnh ra khỏi VKTTĐ để đảm bảo tính động lực cho các vùng này.

(iv) Xác định rõ những ngành kinh tế mũi nhọn, phản ánh đặc trưng thế mạnh của mỗi vùng.

– Hoàn thiện hệ thống cơ chế chính sách phát triển các VKTTĐ. Các chính sách phải hướng tới mục tiêu chính là tạo đòn bẩy cho vùng chủ động tự thân vận động để phát triển chứ không phải nhằm tạo thêm đặc quyền đặc lợi cho vùng trong việc phân chia chiếc bánh ngân sách nhà nước, bao gồm:

(i) Các chính sách tạo điều kiện để biến các dấu hiệu lợi thế so sánh hay lợi thế tuyệt đối trở thành các lợi thế cạnh tranh của vùng. Đó là các chính sách liên quan đến tạo môi trường đầu tư, khuyến khích thu hút nguồn lực vốn, lao động, di dân, chính sách thu hút công nghệ cao vào vùng trọng điểm; các chính sách mở rộng và phát triển thị trường, phát triển mạng lưới cơ sở hạ tầng, thông tin viễn thông.

(ii) Các chính sách nhằm mở rộng phân cấp quản lý nguồn vốn, thu hút đầu tư nước ngoài, tăng cường quyền chủ động cho chính quyền địa phương các tỉnh nằm trong vùng trọng điểm, tạo cho họ những cơ chế thông thoáng hơn trong thu hút và quản lý nguồn lực phát triển vùng.

(iii) Các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, các cơ sở kinh tế nằm trong vùng trọng điểm trong việc tập trung phát triển sản xuất kinh doanh theo hướng hiện đại và chất lượng cao, thông qua các chính sách thuế khóa, chính sách vay vốn, tiêu thụ sản phẩm hàng hóa hoặc trao đổi thương mại với bên ngoài, đặc biệt là thương mại quốc tế.

Giai đoạn sau 2020, các VKTTĐ bước vào giai đoạn phát triển ổn định về kinh tế. Giai đoạn này, lợi thế cạnh tranh đã thuộc về các VKTTĐ, tức là đã có đủ sức đứng vững trong quá trình phát triển, các chính sách khuyến khích ưu tiên, tạo môi trường hay đòn bẩy kinh tế cho vùng có thể giảm đi, thay dần vào đó là việc nhấn mạnh nhiều hơn đến các chính sách ổn định và củng cố thế đứng vững chắc cho vùng, nhất là chính sách phát triển theo chiều sâu hệ thống đô thị hạt nhân với các điều kiện phát triển hiện đại.

– Sắp xếp và tổ chức hoạt động kinh tế các KCN theo hướng bền vững và hiệu quả cao. Trong đó cần tiếp tục quan tâm đến một số nội dung: Phân vùng phát triển KCN để có định hướng thu hút đầu tư hợp lý bảo đảm tính bền vững; đa dạng hóa các mô hình tổ chức các KCN theo hướng nâng cao hiệu quả kinh tế.

Bốn là, tái cấu trúc đầu tư và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư

– Thay đổi cơ cấu đầu tư theo hướng tăng tỷ trọng đầu tư vốn từ thành phần kinh tế tư nhân, giảm dần tỷ trọng đầu tư vốn Nhà nước: Đầu tư bằng nguồn vốn Nhà nước, một mặt, chứa đựng yếu tố thiếu hiệu quả cả về khách quan do phải gánh vác những nhiệm vụ đầu tư cho các lĩnh vực phi kinh tế và chủ quan do ý thức quản lý và sử dụng lãng phí; mặt khác, tỷ lệ vốn đầu tư Nhà nước cao còn chứa đựng sự không an toàn cho ngân sách Nhà nước và những nguy cơ đe dọa lạm phát cao.

Cần coi trọng và có chính sách tăng cường đầu tư từ thành phần kinh tế tư nhân. Liên quan đến vấn đề này cần: Tạo sân chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp ngoài Nhà nước với các DNNN trong kinh doanh, trong sử dụng đất đai, vốn và các nguồn lực khác. Cần có sự chú ý thích đáng về chính sách và sự nỗ lực của bộ máy điều hành vĩ mô dành ưu tiên cho việc tạo ra cơ chế phân bổ hiệu quả nguồn lực trong nền kinh tế.

Đổi mới mạnh mẽ vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư. Định hướng đầu tư trên cơ sở nâng cao chất lượng chiến lược và quy hoạch phát triển các ngành và các vùng kinh tế; ban hành và thực thi chính sách thông thoáng, minh bạch, ổn định nhằm huy động rộng rãi các nguồn vốn trong và ngoài nước vào đầu tư phát triển. Nhà nước cần hạn chế đến mức tối đa việc thực hiện các hoạt động kinh tế thông qua việc đầu tư phát triển DNNN, chỉ nên phát triển DNNN trong những lĩnh vực then chốt, trọng yếu của nền kinh tế và các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến quốc phòng – an ninh. Đầu tư từ ngân sách Nhà nước cần được tập trung vào tạo lập các điều kiện để phát triển các hoạt động kinh doanh, như kết cấu hạ tầng, nguồn nhân lực, cải cách thể chế,… Đẩy mạnh cải cách hành chính, khắc phục hành vi tiêu cực, sách nhiễu doanh nghiệp tư nhân của những công chức trong bộ máy công quyền đang làm tăng chi phí, hạn chế đầu tư của khu vực tư nhân.

Nghiên cứu ban hành các chính sách đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư ngoài Nhà nước. Có thể thực hiện theo chiều hướng: Đẩy mạnh huy động nguồn vốn trong dân cư thông qua phát triển mạnh hệ thống doanh nghiệp vừa và nhỏ; đẩy mạnh huy động vốn của các trung gian tài chính, nhất là các ngân hàng thương mại trong và ngoài nước cũng như vốn trong dân cư; phát triển thị trường chứng khoán, …

– Nâng cao hiệu quả đầu tư từ vốn Nhà nước:

Tăng cường và đổi mới công tác quản lý Nhà nước về đầu tư theo hướng loại bỏ dần tình trạng khép kín trong quản lý đầu tư xây dựng cơ bản, tách chức năng quản lý Nhà nước với quản lý kinh doanh trong xây dựng; thực hiện đấu thầu chọn tư vấn quản lý dự án; xây dựng và ban hành tiêu chí chủ đầu tư, ban quản lý dự án; tăng cường chức năng tư vấn giám sát độc lập trong quá trình thực hiện dự án. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch và kiên quyết quản lý công tác đầu tư theo quy hoạch được duyệt; khắc phục tình trạng tiêu cực, lãng phí, thất thoát trong đầu tư bằng cách tuân thủ đầy đủ các khâu của quá trình đầu tư; thực hiện nghiêm chỉnh Luật Đấu thầu; tăng cường công tác giám sát đầu tư, kiểm tra, kiểm soát ở tất cả các ngành, các cấp, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm quy định về quản lý đầu tư, nhằm kịp thời ngăn chặn tiêu cực và thất thoát trong đầu tư.

Nâng cao ý thức trách nhiệm và phẩm chất đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức làm việc trong lĩnh vực đầu tư và xây dựng bằng nguồn vốn Nhà nước. Kết hợp việc đẩy mạnh công khai dân chủ ở cấp cơ sở với công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của cả hệ thống chính trị, của cơ quan quản lý, của nhân dân, thực thi các chế tài đủ mạnh để đẩy lùi các hiện tượng tiêu cực tham nhũng.

2. Nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế

Một là, cải thiện môi trường kinh doanh:

Trong thời gian qua, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc cải thiện môi trường kinh doanh theo hướng thông thoáng, ổn định, bình đẳng và minh bạch. Các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã đánh giá cao kết quả của nỗ lực ấy. Tuy nhiên, phải coi việc cải thiện môi trường kinh doanh là nhiệm vụ thường xuyên, liên tục. Trong thời gian tới, cũng với việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, cần tiếp tục tập trung vào việc phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và cải cách thủ tục hành chính, những yếu tố hiện nay đang làm tăng chi phí hoạt động hoặc làm nản lòng các nhà đầu tư.

Hai là, đẩy mạnh phòng và chống tệ nạn tham nhũng:

Tệ tham nhũng đã làm ảnh hưởng nhiều đến việc nâng cao khả năng cạnh tranh của Việt Nam. Việc phòng và chống tham nhũng, lãng phí, thực hành tiết kiệm là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, đòi hỏi sự tham gia của toàn bộ hệ thống chính trị từ trung ương đến địa phương và của toàn dân.

Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế và đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính phục vụ phòng và chống nhũng, tập trung vào các lĩnh vực dễ xảy ra tham nhũng, chú trọng các biện pháp phòng ngừa tham nhũng, lãng phí, Thực hiện chế độ công khai, minh bạch về kinh tế, tài chính trong các cơ quan hành chính, đơn vị cung ứng dịch vụ công, DNNN. Công khai minh bạch về cơ chế, chính sách, các dự án đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm từ ngân sách Nhà nước, huy động đóng góp từ nhân dân, quản lý và sử dụng đất đai, tài sản công, ….

Cải cách chính sách tiền lương, thu nhập, bảo đảm cuộc sống cho cán bộ, công chức để góp phần phòng, chống tham nhũng. Hoàn thiện các quy định trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan khi để cơ quan, tổ chức, đơn vị xảy ra tham nhũng. Xử lý nghiêm minh, kịp thời, công khai cán bộ tham nhũng. Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan chức năng. Có cơ chế khuyến khích và bảo vệ những người tích cực đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí. Kỷ luật nghiêm những người bao che, cố tình ngăn cản việc chống tham nhũng.

Ba là, thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp:

Sức mạnh của nền kinh tế được tạo thành từ chính hệ thống doanh nghiệp. Vì vậy, để nâng cao năng lực canh tranh quốc gia cần phải xây dựng nền tảng từ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Đồng thời, trong điều kiện hội nhập kinh tế toàn cầu, trình độ công nghệ được xem như là một yếu tố cốt lõi để nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Do đó, cần phải có giải pháp đồng bộ tăng cường tiềm lực KHCN cho nền kinh tế, trong đó:

(i) Tạo điều kiện để các doanh nghiệp có đủ năng lực ứng dụng công nghệ mới bằng cách tạo ra môi trường đầu tư lành mạnh, làm cho yếu tố công nghệ trở thành điều kiện quyết định giành thắng lợi trong cạnh tranh; giảm các ưu tiên, ưu đãi cho một số loại hình doanh nghiệp;

(ii) có chính sách thúc đẩy ứng dụng KHCN, khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện đầu tư đổi mới công nghệ, sử dụng các biện pháp quyết liệt để bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho các doanh nghiệp đi đầu trong ứng dụng công nghệ mới;

(iii) phát triển doanh nghiệp KHCN để tăng nguồn cung sản phẩm công nghệ mới cho thị trường; loại bỏ được những sản phẩm KHCN “danh nghĩa”, không có tác dụng đối với sự phát triển của xã hội.

(ii) Thu hút vốn đầu tư cho KHCN từ nhiều nguồn, lựa chọn các nhà khoa học “đầu đàn” làm chủ các công trình NCKH, quy định mức thù lao, mức thưởng thỏa đáng đối với những người có năng lực sáng tạo, có công trình khoa học được áp dụng vào thực tiễn, tăng cường chuyển giao công nghệ tiên tiến, hiện đại trong các dự án FDI.

(iii) Kiểm soát chặt chẽ hơn quá trình chuyển giao công nghệ, đặc biệt là thông qua hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài.

3. Tăng cường đầu tư theo chiều sâu đối với các yếu tố nguồn lực làm nền tảng cho tăng trưởng bền vững trong dài hạn

Một là, tăng cường đầu tư cho xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng tạo tiền đề cho TTKT dài hạn và bền vững:

Chú trọng phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật, bao gồm đường sá, cầu cống, bến cảng, sản xuất và truyền tải điện, hạ tầng viễn thông, khu công nghiệp tập trung, khu công nghệ cao, các khu kinh tế mở. Đồng thời quan tâm đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng văn hóa-xã hội, như trường học, bệnh viện, khu vui chơi, giải trí. Để có thể tăng tỷ trọng vốn thu hút vào đầu tư kết cấu hạ tầng, cần đa dạng hóa các hình thức và nguồn vốn đầu tư, hoàn thiện luật pháp về xây dựng công trình hạ tầng, xây dựng hệ thống danh mục đầu tư và có chương trình vận động đối với các nhà đầu tư cụ thể ứng với từng dự án cụ thể, ban hành chính sách khuyến khích tư nhân trong nước và ngoài nước tham gia xây dựng hạ tầng.

Hai là, tăng cường đầu tư tạo điều kiện nâng cao năng suất lao động:

Chú trọng đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý sản xuất, đào tạo nâng cao trình độ của người lao động, bố trí hợp lý và tạo động lực thúc đẩy tính năng động, sáng tạo của người lao động. Đặc biệt chú trọng nâng cao NSLĐ ở khu vực kinh tế ngoài Nhà nước và trong các ngành nông, lâm, ngư nghiệp. Đây là các khu vực và các ngành kinh tế hiện có trình độ kỹ thuật và NSLĐ còn rất thấp, nhưng có phạm vi hoạt động rộng rãi và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng lao động xã hội. Mặt khác, cần tạo môi trường thông thoáng để lao động có thể dễ dàng dịch chuyển từ những lĩnh vực, những ngành kinh tế có NSLĐ thấp sang các lĩnh vực, các ngành kinh tế có NSLĐ cao hơn, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách tích cực theo hướng đẩy nhanh quá trình CNH, HĐH, tăng nhanh NSLĐ toàn xã hội.

Ba là, tăng cường đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực đủ về số lượng và không ngừng nâng cao về chất lượng.

Đối với vấn đề nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay, giải pháp khẩn thiết nhất là nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, chú trọng đào tạo công nhân kỹ thuật, trung cấp nghề để thay đổi cơ cấu lao động hiện nay. Tăng cường nâng cấp chất lượng cơ sở vật chất kỹ thuật cho các cơ sở đào tạo, chú trọng xây dựng mới và củng cố các phòng thí nghiệm, xưởng thực hành, thực nghiệm của các cơ sở đào tạo, đặc biệt là đối với cơ sở gắn với đào tạo các chuyên ngành mũi nhọn, các ngành nghề mới. Mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực GDĐT, khuyến khích và mở rộng cơ chế để các cơ sở đào tạo trong nước hợp tác với các cơ sở đào tạo của các nước phát triển.

Để thực hiện mục tiêu tăng đầu tư cho GDĐT và phát triển nguồn nhân lực, có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau kể cả trực tiếp và gián tiếp. Riêng đầu tư từ ngân sách, cần chú trọng đến cơ cấu phân bổ, hiệu quả và chất lượng. Cần tăng cường xã hội hóa hoạt động GDĐT, bao gồm cả đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư và hình thức tổ chức đào tạo. Đây là một điểm nhấn quan trong để khai thác các nguồn lực của toàn xã hội cho phát triển GDĐT và nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực. Đổi mới chính sách sử dụng, đánh giá và đãi ngộ nhân lực theo hướng dựa trên năng lực chuyên môn và hiệu quả thực hiện công việc.

Bốn là, tăng cường đầu tư cho KHCN:

Cần xây dựng chiến lược dài hạn đầu tư cho hoạt động nghiên cứu KHCN, đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để tạo bước bứt phá về một số công nghệ cao có tác động tích cực đến nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả của nền kinh tế, đẩy mạnh hội nhập quốc tế trong lĩnh vực KHCN, tận dụng lợi thế của nước đi sau. Cần thay đổi tư duy trong phát triển hệ thống KHCN. Nhà nước cần xác định rõ nhiệm vụ hỗ trợ trực tiếp trong giới hạn và phạm vi nhất định, chuyển mạnh sang cơ chế quản lý bằng chính sách nhằm kích thích đổi mới công nghệ trong các doanh nghiệp và tăng hợp tác hai chiều giữa tổ chức nghiên cứu triển khai và các doanh nghiệp.

Nhanh chóng hình thành thị trường sản phẩm công nghệ và hỗ trợ thị trường này phát triển mạnh. Theo đó, khuyến khích các tổ chức KHCN tham gia thực hiện các giao dịch chính thức trên thị trường KHCN; đổi mới cơ chế hoạt động của các tổ chức nghiên cứu và triển khai theo hướng xóa bỏ dần cơ chế bao cấp, quản lý hành chính, chuyển sang vận hành theo cơ chế thị trường.

Một việc vừa mang tính chiến lược vừa là giải pháp tác nghiệp cho việc tăng cường đầu tư đổi mới công nghệ là chính sách thu hút FDI. FDI phải nhằm mục tiêu nâng cấp công nghệ và nâng cấp nền kinh tế. Do đó, phải quan tâm đến đầu tư hấp thụ công nghệ và kỹ năng hơn là đầu tư về tư liệu máy móc hay các nhà máy. Để thực hiện điều này cần chú trọng hai vấn đề then chốt: Cần phải lựa chọn nhà đầu tư và các dự án đầu tư phù hợp; tạo sự hấp dẫn và vững tin hơn cho các nhà đầu tư khi bỏ vốn vào Việt Nam.

4. Đẩy nhanh cải cách thể chế

Hình thành thể chế kinh tế, thể chế chính trị hoàn chỉnh, đồng bộ, có lợi cho phát triển kinh tế và có lợi cho đổi mới MHTTKT. Nhà nước cần ban hành khung cơ chế, minh bạch, kịp thời để thay đổi phương thức TTKT đem lại hiệu quả cao.

Cải cách thể chế pháp lý và thủ tục hành chính, tôn trọng quan hệ thị trường. Nhanh chóng xóa bỏ cơ chế chủ quản – một cơ chế lỗi thời, tàn dư của thời kỳ bao cấp – từ đó xóa bỏ việc sử dụng mệnh lệnh hành chính để can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của doanh nghiệp theo nguyên tắc “bình đẳng, minh bạch”; xây dựng đội ngũ công chức “liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân” như quy định tại điều 8 Luật Cán bộ công chức.

Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN được coi là một trong ba đột phá chiến lược trong Chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020, đồng thời khẳng định: “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại là tiền đề quan trọng thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình phát triển, ổn định kinh tế vĩ mô”. Để có bước đột phá về thể chế, cần thực hiện các giải pháp chính sau đây:

Một là, tiếp tục rà soát nhằm loại bỏ, sửa đổi hoặc bổ sung những thể chế lạc hậu, bất cập, đồng thời thiết lập các thể chế còn thiếu để điều chỉnh các quan hệ kinh tế, xã hội mới phát sinh theo tiến trình phát triển của nền KTTT và quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Phải tiến tới xây dựng một hệ thống pháp luật đầy đủ, hoàn chỉnh, đồng bộ, thống nhất, minh bạch, dễ đoán trước và phù hợp với luật lệ quốc tế. Trước mắt cần xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật mới như Pháp lệnh về Đối xử quốc gia, Đối xử Tối huệ quốc và quyền tự vệ; Luật quản lý đầu tư nhà nước, sửa đổi các Luật Thương mại, Luật Phá sản doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật doanh nghiệp, Luật Ngân sách Nhà nước, Luật Đất đai, Bộ luật Dân sự, Bộ Luật Lao động,…

Bên cạnh việc hoàn thiện về số lượng và nội dung của hệ thống thể chế, cần tăng cường dân chủ, công khai, minh bạch trong việc soạn thảo, ban hành và thực thi nhằm nâng cao hiệu quả và hiệu lực của thể chế. Quá trình xây dựng và thực thi thể chế cần có sự tham gia sâu rộng và giám sát thoả đáng của các chủ thể hữu quan, đặc biệt là của người dân và doanh nghiệp.

Hai là, đẩy mạnh đổi mới công tác kế hoạch nhằm xác định rõ những nội dung kinh tế, xã hội mà mỗi cấp chính quyền cần hoạch định; đồng thời tính toán sự cân đối các nguồn lực tương ứng với các mục tiêu đã xác định nhằm định hướng cho thị trường phát triển. Đổi mới công tác kế hoạch và quy hoạch thực chất là xác định vai trò quan trọng của Nhà nước trong suốt quá trình dẫn dắt thị trường phát triển theo mục tiêu của mình. Do đó, một trong các nhiệm vụ quan trọng của công tác quy hoạch, kế hoạch là chỉ dẫn và dự báo các nhân tố ảnh hưởng đến các mục tiêu phát triển. Cụ thể là cần đổi mới nội dung và phương thức xác định các chỉ tiêu kinh tế, xã hội hiện nay theo hướng chuyển từ tính chất pháp lệnh sang tính chất chỉ dẫn (Ví dụ như chuyển dịch cơ cấu kinh tế, huy động vốn đầu tư, chỉ số tăng giá,… mang tính chất dự báo để định hướng cho nhà đầu tư, không cần xem đó là những ràng buộc trong điều hành nền kinh tế của Nhà nước). Nhà nước đưa ra những tín hiệu mang tính chỉ dẫn để dẫn dắt thị trường; đồng thời xác định các chính sách, biện pháp, giải pháp nhằm bảo đảm đạt được các mục tiêu đề ra.

Về các chỉ tiêu phát triển kinh tế – xã hội, cần tập trung vào các chỉ tiêu phát triển bền vững như các chỉ tiêu về an sinh xã hội, môi trường… nhằm ràng buộc các cấp chính quyền phải thực hiện nhiệm vụ của mình. Các chỉ tiêu về kinh tế, xét cho cùng, chỉ là phương tiện; còn các chỉ tiêu về an sinh xã hội mới là mục tiêu của phát triển. Để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho công tác kế hoạch, đề nghị sớm xây dựng đạo luật về kế hoạch hóa trong đó xác định rõ nội dung: Làm gì, làm cách nào, vào lúc nào và ai làm đối với từng cấp chính quyền có đặc điểm khác nhau (đô thị, nông thôn,…)

Ba là, cần kiên định quan điểm phát triển bền vững, chú trọng hơn nữa đến các yếu tố xã hội và môi trường trong xây dựng và thực thi thể chế. Điều này cần được nâng lên thành “nguyên tắc”, được quy định trong các văn bản có liên quan, như trong Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, hoặc trong các Nghị quyết về phát triển kinh tế, xã hội của các cấp, các ngành. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống chính sách, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục tiêu, chính sách xã hội; thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể. Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, lĩnh vực, vùng và các chương trình, các dự án. Hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường; xây dựng chế tài đủ mạnh để ngăn ngừa, xử lý các hành vi vi phạm.

Để đảm bảo công bằng xã hội, trong phân phối thu nhập có phân phối lần đầu và rất nhiều lần, nhiều hình thức phân phối lại. Nhà nước cần thực hiện có hiệu quả các chính sách phân phối và phân phối lại để điều tiết hợp lý thu nhập các tầng lớp dân cư, các ngành, các vùng khác nhau. Đặc biệt là gắn liền với tăng trưởng kinh tế mà phát triển phân phối qua quỹ phúc lợi xã hội nhằm giảm bớt chênh lệch về điều kiện tái sản xuất sức lao động trên một số nhu cầu cơ bản, thiết yếu của các thành viên xã hội. Tăng trưởng kinh tế ở nước ta hiện nay đòi hỏi phải sử dụng tối đa sức lao động xã hội, hạn chế thất nghiệp, do đó Nhà nước cần có các chính sách khuyến khích đầu tư, đa dạng hóa các loại hình sản xuất, kinh doanh để cho người lao động có cơ hội tìm kiếm việc làm, kể cả việc làm thuê.

Bốn là, tiếp tục đẩy mạnh công tác cải cách hành chính. Xây dựng nền hành chính phục vụ dựa trên cơ sở hình thành các tổ chức cung cấp dịch vụ công, các định chế yểm trợ. Hiện nay, luật pháp nước ta chưa chế định các định chế cung cấp dịch vụ công phi lợi nhuận. Cần xác định rõ bản chất của định chế cung cấp dịch vụ công phi lợi nhuận là các tổ chức cung cấp các dịch vụ công cho xã hội như: Y tế, giáo dục, văn hóa, khoa học, dịch vụ đô thị, hỗ trợ pháp lý, hỗ trợ thông tin; các tổ chức khuyến nông, khuyến ngư… do các thành phần kinh tế và Nhà nước đầu tư; được thành lập để phục vụ cho lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng, mà nhà đầu tư không thu lợi nhuận về cho mình (nhà đầu tư không thu lợi nhuận không có nghĩa là tổ chức đó không hoạt động kinh doanh, mà phải mang tính chất kinh doanh nhằm tích tụ vốn để không ngừng phát triển). Ðể thực hiện vai trò này của Nhà nước, cần sớm xây dựng một đạo luật về các tổ chức dịch vụ công phi lợi nhuận. Khi có đạo luật này, thì vai trò quản lý nhà nước là giám sát sự hoạt động của các tổ chức trên, chứ không phải làm thay các tổ chức này. Về cải cách thủ tục hành chính, cần đơn giản hóa các thủ tục, hợp lý hóa trình tự giải quyết công việc trong quan hệ giữa các cơ quan công quyền với xã hội dân sự, với công dân, với doanh nghiệp.

Năm là, hoàn thiện chính sách và pháp luật đối với các loại thị trường phù hợp với mục tiêu cơ cấu lại nền kinh tế. Sự phát triển các loại thị trường phản ánh quá trình chuyển dịch cơ cấu và lợi thế của nền kinh tế trong quá trình cạnh tranh. Do đó, vấn đề hoàn thiện các loại thị trường ở nước ta cần xác định trên hai nguyên tắc.

* Nguyên tắc thứ nhất là bảo đảm tính đồng bộ trong mối quan hệ kinh tế giữa các thị trường với nhau, bởi vì không có một loại thị trường nào phát triển riêng rẽ, mà luôn luôn là nguyên nhân và kết quả của thị trường kia (Ví dụ, nếu các ngành kinh tế khác không phát triển, thì không có điều kiện để phát triển thị trường tài chính và nếu thị trường tài chính không phát triển, thì không bảo đảm được nguồn vốn cho các ngành kinh tế khác).

* Nguyên tắc thứ hai, sự phát triển các loại thị trường phải thông qua các chính sách của Nhà nước, được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật có liên quan, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội cho từng giai đoạn của quá trình CNH, HĐH đất nước.

Sáu là, thay đổi cách thức điều tiết và can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô và các tổ chức kinh tế của Nhà nước. Thông thường, Nhà nước sử dụng 4 nhóm chính sách điều tiết để đảm bảo đạt được các mục tiêu vĩ mô của nền kinh tế (Các mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản gồm: Tăng trưởng GDP; tạo việc làm mới, giảm thất nghiệp; ổn định giá cả và tăng xuất khẩu ròng), gồm: Chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách chi tiêu và chính sách ngoại thương. Nhà nước cần sử dụng một cách linh hoạt, kết hợp có hiệu quả bốn nhóm công cụ chính sách nêu trên tùy theo tính chất của nền kinh tế và trong mỗi giai đoạn nhất định nhằm bảo đảm phục vụ có hiệu quả cho các mục tiêu kinh tế vĩ mô nói chung và mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói riêng. Kinh nghiệm của nhiều nước thành công trong việc chuyển nền kinh tế từ giai đoạn gia công sang giai đoạn sản xuất là sử dụng linh hoạt và hiệu quả chính sách thuế để định hướng đầu tư cho doanh nghiệp.

Bảy là, tiếp tục đổi mới việc phân cấp của Chính phủ cho chính quyền địa phương. Việc phân cấp cần được thực hiện trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản là: Mở rộng phân cấp, nhưng đồng thời phải tạo cơ chế để tăng cường kiểm tra, thanh tra, giám sát của chính quyền Trung ương đối với chính quyền địa phương. Cụ thể là Chính phủ tập trung vào 3 nhiệm vụ:

(1) Hoạch định chính sách;

(2) Ban hành các quy định;

(3) Kiểm tra, giám sát, chế tài vi phạm. Các quyết định cụ thể liên quan đến đời sống kinh tế ở mỗi địa phương nên để địa phương thực hiện. Việc phân cấp cần dựa trên các nguyên tắc của nền hành chính quốc gia, bảo đảm tính chất thống nhất quản lý của Nhà nước, nhưng vẫn đề cao tính tự chủ của địa phương trên nền tảng lợi thế so sánh, năng lực cạnh tranh của các địa phương, các vùng kinh tế và các đô thị. Từ các nguyên tắc nêu trên, để nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước, cần hoàn thiện các văn bản pháp luật liên quan đến tổ chức bộ máy hành chính nhà nước.

Tham khảo thêm

Đặng Thành Chung (2020). Chuyển đổi mô hình tăng trưởng kinh tế của Thái Lan và Malaysia sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam. Luận án tiến sĩ Kinh tế (Chuyên ngành Kinh tế Quốc tế). Học viện Khoa học Xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam. Hà Nội.

Bài viết liên quan / hoặc cùng chủ đề