Bài viết phân tích những nội dung cơ bản của hợp tác quốc tế về thuế: Đàm phán, ký kết các hiệp định song phương, đa phương và tổ chức thực hiện cũng như phối hợp đào tạo, trao đổi chuyên môn về thuế và hợp tác nghiên cứu khoa học…

1. Đàm phán, ký kết các hiệp định song phương về tránh đánh thuế hai lần và phòng, chống trốn lậu thuế

Trước khi có đề xuất của OECD về Hiệp định thuế đa phương, vấn đề hợp tác giữa các quốc gia nhằm thực hiện các biện pháp tránh đánh thuế hai lần và hợp tác phòng chống trốn lậu thuế chỉ được thực hiện bởi các hiệp định tránh đánh thuế hai lần và phòng chống trốn lậu thuế song phương, tức là hiệp định được ký kết giữa hai nước với nhau (gọi tắt là hiệp định thuế).

Những hiệp định thuế song phương đầu tiên được đàm phán từ thế kỷ XIX nhưng tầm quan trọng thực sự của hiệp định thuế chỉ được nhận biết sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất vì thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp tăng cao và nguy cơ đánh thuế trùng của cả nước cư trú và quốc gia có nguồn thu nhập. Chính sự gia tăng tầm quan trọng của hiệp định thuế song phương đã dẫn đến việc Liên hiệp quốc công bố mô hình hiệp ước thuế song phương năm 1928 và sau đó sửa đổi, bổ sung mô hình để công bố các mô hình Mexico năm 1943 và London năm 1946.

Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đã tiếp quản tổ chức Hợp tác kinh tế châu Âu sau chiến tranh thế giới lần thứ hai và ban hành mô hình hiệp định thuế song phương của mình dựa trên mô hình Lodon vào năm 1963, trong khi Liên hiệp quốc đã công bố mô hình hiệp định thuế song phương dựa vào mô hình Mexico vào năm 1980 [2, tr.44]. Những mô hình trên là cơ sở để các quốc gia đàm phán và ký kết hơn 3.000 hiệp định thuế song phương. Tính đến nay, có khoảng 80% hiệp định thuế song phương của các nước là giống nhau và xuất phát từ các mô hình của OECD hoặc Liên hiệp quốc.

Dự thảo đầu tiên của mẫu hiệp định thuế song phương theo mô hình OECD được phát hành năm 1963, sau đó được điều chỉnh và ban hành chính thức vào năm 1977. Mẫu hiệp định này đã trở thành một tiêu chuẩn cho việc đàm phán các hiệp định thuế song phương giữa các quốc gia. Kể từ đó đến nay, mẫu hiệp định thuế song phương của OECD đã được sửa đổi 9 lần, lần gần nhất là vào năm 2017. Hiệp định thuế song phương của OECD được soạn thảo theo tinh thần ủng hộ các nước xuất khẩu vốn (các nước phát triển), không đứng về phía các nước nhập khẩu vốn.

Thông thường, hiệp định thuế song phương loại bỏ việc đánh thuế trùng bằng cách yêu cầu quốc gia nguồn phải từ bỏ một số hoặc tất cả các khoản thuế đối với một số loại thu nhập nhất định mà đối tượng cư trú của quốc gia tham gia điều ước khác thu được. Tính năng này trong mẫu hiệp định thuế của OECD là phù hợp nếu luồng thương mại và đầu tư giữa hai nước là cân bằng và nước cư trú sẽ thu thuế bất kỳ khoản thu nhập nào được miễn trừ bởi quốc gia nguồn. Tuy nhiên, mẫu hiệp định thuế song phương của OECD không thực sự phù hợp với các nước nhập khẩu ròng. Bởi vậy, các nước đang phát triển đã đề xuất mẫu hiệp định thuế phù hợp để đảm bảo lợi ích của mình với sự bảo trợ của Liên hiệp quốc [2, tr.44].

Một nhóm chuyên gia nghiên cứu điều ước quốc tế về thuế giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển được thành lập vào năm 1968 bởi Hội đồng Kinh tế – xã hội Liên hiệp quốc. Trên cơ sở nghiên cứu của nhóm chuyên gia này, mẫu hiệp định thuế song phương đầu tiên của Liên hiệp quốc xuất bản năm 1980 có tên là Mẫu hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa các nước phát triển và đang phát triển. Từ đó đến nay, mẫu hiệp định thuế này đã được sửa đổi, bổ sung 3 lần vào các năm 2001, 2011 và 2017 [2, tr.45].

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần và phòng, chống trốn lậu thuế là một trong những văn kiện thể hiện thỏa thuận chính thức trong hợp tác về lĩnh vực thuế giữa hai quốc gia tham gia ký kết hiệp định [3, tr.27].

Hiệp định thuế song phương chính là cơ sở pháp lý để các cơ quan có thẩm quyền của hai quốc gia ký kết xử lý các vấn đề về xác định nghĩa vụ thuế và quản lý thuế khi có doanh nghiệp hoặc công dân của nước này làm việc, kinh doanh hoặc có thu nhập phát sinh ở nước ký kết kia. Trong khi các hiệp định thương mại hoặc hiệp định thương mại đầu tư tập trung giải quyết nhiều vấn đề liên quan với mục tiêu thúc đẩy tự do hóa thương mại và đầu tư giữa các quốc gia, thúc đẩy di chuyển các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia (trong đó, có nhiều vấn đề liên quan đến lĩnh vực thuế, đặc biệt và quan trọng nhất là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu), các hiệp định tránh đánh thuế hai lần và phòng chống trốn lậu thuế chỉ tập trung giải quyết quan hệ đánh thuế thu nhập và thuế tài sản của hai quốc gia ký kết để đảm bảo không đánh thuế lên các khoản thu nhập và tài sản và các nội dung hợp tác để phòng, chống trốn lậu thuế.

Như vậy, có thể thấy, mục tiêu chính của các hiệp định thuế song phương là tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư xuyên biên giới bằng cách loại bỏ các rào cản về thuế đối với những hoạt động này, trong đó, quan trọng nhất là loại bỏ việc tránh đánh thuế hai lần. Điều này có nghĩa là, nếu như thu nhập từ thương mại và đầu tư xuyên biên giới bị đánh thuế bởi hai hoặc nhiều quốc gia mà không có bất kỳ sự hỗ trợ nào thì sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư. Hệ thống hiệp định thuế song phương hạn chế hoặc loại bỏ thuế của một quốc gia đối với một số loại thu nhập nhất định bằng cách yêu cầu các quốc gia cư trú phải miễn thuế hoặc khấu trừ thuế đối với phần thu nhập từ nước ngoài.

Mục tiêu thứ hai của hiệp định thuế song phương là ngăn ngừa trốn thuế thông qua các giao dịch quốc tế hoặc các sự kiện khác và ngăn ngừa trốn tránh nghĩa vụ tài chính. Do được thiết kế nhằm mục tiêu tránh đánh thuế trùng nên các quy định về miễn thuế, giảm thuế hoặc khấu trừ thuế đã được thiết kế có lợi cho người nộp thuế. Điều này dẫn đến việc, ở một chừng mực nhất định, xuất hiện sự chênh lệch về các nội dung của hiệp định thuế với pháp luật nội địa của các quốc gia nên người nộp thuế có thể lợi dụng để trốn thuế tại các quốc gia ký kết. Điều này đặt ra đòi hỏi phải ngăn ngừa trốn lậu thuế khi soạn thảo các hiệp định thuế song phương.

Ngoài hai mục tiêu quan trọng trên, hiệp định thuế song phương còn hướng đến một số mục tiêu khác, đó là:

(i) Loại bỏ sự phân biệt đối với công dân nước ngoài và người không cư trú, theo đó, bất kỳ quốc gia nào tham gia vào một hiệp ước đều muốn đảm bảo rằng mọi công dân của mình kinh doanh tại quốc gia ký kết được đối xử bình đẳng như các công dân quốc gia kia khi thực hiện các hoạt động kinh doanh tương tự;

(ii) Tạo điều kiện hợp tác hành chính giữa cơ quan thuế có thẩm quyền của các quốc gia ký kết hiệp định thuế trên 3 phương diện chính là: trao đổi thông tin, hỗ trợ thu thuế và giải quyết tranh chấp.

Nội dung cơ bản của các hiệp định tránh đánh thuế hai lần bao gồm các vấn đề chủ yếu sau:

Phạm vi áp dụng của hiệp định chỉ rõ áp dụng đối với những sắc thuế nào [3, tr.27]. Theo thông lệ quốc tế, các loại thuế áp dụng trong các hiệp định thuế là các loại thuế đánh vào thu nhập và tài sản hoặc những sắc thuế có bản chất tương tự thuế thu nhập và thuế tài sản, chẳng hạn như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài sản. Thông thường các hiệp định thuế song phương quy định rõ nghĩa vụ thuế được xử lý như thế nào ở hai quốc gia ký kết đối với thu nhập từ bất động sản, từ động sản, từ các hoạt động kinh doanh, thu nhập từ vận tải hàng hóa quốc tế, thu nhập từ tiền lãi cổ phần, tiền lãi cho vay, thu nhập từ bản quyền, thu nhập từ cung cấp dịch vụ kỹ thuật, thu nhập từ chuyển nhượng tài sản, thu nhập từ hoạt động hành nghề của cá nhân độc lập, thu nhập từ hoạt động dịch vụ cá nhân phụ thuộc, thu nhập từ thù lao giám đốc, thu nhập từ thù lao giám đốc, thu nhập từ hoạt động của nghệ sĩ và vận động viên, thu nhập của nghiên cứu viên và giảng viên, thu nhập từ lương hưu, thu nhập từ hoạt động phục vụ chính phủ, thu nhập của sinh viên, thực tập sinh, học sinh học nghề và các khoản thu nhập khác.

Các định nghĩa quan trọng như: cơ sở thường trú, cư trú làm cơ sở áp dụng các nguyên tắc đánh thuế. Các tiêu chí thường được sử dụng để xác định cơ sở thường trú/cư trú của một quốc gia trong các hiệp định thuế là:

+ Đối với cá nhân: Có nhà ở tại một nước ký kết; thời gian hiện diện ở một nước ký kết; quốc tịch.

+ Đối với tổ chức: Trụ sở điều hành, trụ sở đăng ký, tại một nước ký kết; nơi thành lập.

+ Đối với cả cá nhân và tổ chức: Trung tâm lợi ích mức độ chặt chẽ về mối quan hệ kinh tế.

Các quy định cụ thể về quyền đánh thuế của các nước ký kết đối với từng loại thu nhập, từng loại tài sản liên quan đến việc áp dụng các nguyên tắc đánh thuế theo cư trú hay theo nguồn phát sinh. Theo hiệp định mẫu của cả OECD và Liên hiệp quốc thì thu nhập từ hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp của một quốc gia tham gia ký kết không thành lập pháp nhân tại quốc gia ký kết kia chỉ bị đánh thuế tại quốc gia ký kết kia nếu doanh nghiệp đó có một cơ sở thường trú tại quốc gia đó và thu nhập đó liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến cơ sở thường trú đó. Trong trường hợp này, doanh nghiệp đó chỉ bị đánh thuế tại quốc gia ký kết trên phần thu nhập phân bổ cho cơ sở thường trú.

Các biện pháp tránh đánh thuế hai lần khi có một đối tượng đồng thời đánh thuế ở cả 2 nước ký kết theo luật của nước đó và theo các điều khoản cụ thể về quyền đánh thuế của nước ký kết ghi trong hiệp định. Để đánh thuế hai lần, các hiệp định thuế thường lựa chọn một trong các hình thức sau:

+ Miễn thuế: Một khoản thu nhập đã đã đánh thuế ở nước ký kết này khi chuyển về nước ký kết kia sẽ không bị đánh thuế. Miễn thuế có thể được thực hiện theo kiểu miễn toàn phần hoặc miễn lũy tiến. Miễn thuế toàn phần là khoản thu nhập đã nộp thuế ở nước ký kết này khi chuyển về nước ký kết kia được miễn thuế hoàn toàn. Miễn thuế lũy tiến là hình thức miễn thuế mà khoản thu nhập đã nộp thuế ở nước ký kết này khi chuyển về nước ký kết kia được miễn thuế nhưng vẫn phải cộng vào tổng thu nhập của đối tượng nộp thuế và khi đó nếu tổng thu nhập mới sau khi cộng khoản thu nhập từ nước ngoài vào làm thay đổi mức thuế và thu nhập trong biểu thuế lũy tiến thì đối tượng nộp thuế sẽ phải nộp thuế theo mức thu nhập trong biểu thuế lũy tiến.

+ Khấu trừ thuế: Một khoản thu nhập đã bị đánh thuế ở nước ký kết này khi chuyển về nước ký kết kia vẫn phải tính thuế nhưng được khấu trừ số thuế đã nộp ở nước ký kết kia. Việc khấu trừ thuế có thể thực hiện bằng biện pháp khấu trừ toàn phần, khấu trừ hạn chế và khấu trừ khoán thuế. Khấu trừ toàn phần là biện pháp tránh đánh thuế hai lần mà toàn bộ số thuế đã nộp ở nước ký kết kia được trừ khi xác định số thuế phải nộp ở nước ký kết này. Khấu trừ hạn chế là biện pháp tránh đánh thuế hai lần mà số thuế đã nộp ở nước ký kết kia chỉ được tối đa bằng với số thuế phải nộp tính theo luật của nước ký kết này. Khấu trừ khoán thuế là việc một nước ký kết cho người nộp thuế được khấu trừ thuế ngay cả khi khoản thu nhập đó được nước ký kết kia miễn thuế hoặc giảm thuế.

Cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý thuế của 2 nước ký kết nhằm phòng chống trốn lậu thuế, bao gồm các vấn đề như: Các loại thông tin mà cơ quan quản lý thuế của hai nước trao đổi với nhau; các cách thức trao đổi thông tin giữa cơ quan thuế hai nước; giới hạn những thông tin không trao đổi; thời gian trao đổi thông tin…

2. Đàm phán và ký kết Hiệp định thuế đa phương

Với cách tiếp cận trước đây, trong khi các hiệp định thương mại hoặc hiệp định thương mại đầu tư có thể ký kết song phương hoặc đa phương thì các hiệp định tránh đánh thuế hai lần luôn là hiệp định song phương. Tuy nhiên, theo đề xuất OECD thể hiện trong chương trình hành động phòng chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận (BEPS), trong thời gian tới các quốc gia sẽ cần nghiên cứu tham gia ký kết Hiệp định thuế đa phương. Hiệp định thuế đa phương đã được một nhóm chuyên trách do Ủy ban các vấn đề ngân sách của OECD thành lập nghiên cứu xây dựng. Nhóm này bắt đầu nghiên cứu vào tháng 5/2015. Phiên họp đầu tiên của nhóm được tổ chức ngày 5 và ngày 6/11/2015.

Sau đó, toàn bộ các điều khoản của công cụ đa phương đã được hoàn tất vào cuối tháng 11/2016. Ngày 7/6/2017, tại trụ sở của OECD tại Paris, 68 quốc gia và vùng lãnh thổ đã tham dự lễ ký Hiệp định thuế đa phương để chính thức tham gia vào Hiệp định. Từ sự lan tỏa của OECD với 68 nước tham gia ký kết đầu tiên, các quốc gia còn lại trên thế giới đã, đang và sẽ tiếp tục nghiên cứu tham gia ký kết Hiệp định thuế đa phương do Hiệp định thuế đa phương sửa đổi, bổ sung một lần cho tất cả các hiệp định thuế song phương đã được ký kết trước đó.

Nội dung bao trùm của của Hiệp định thuế đa phương dựa trên tinh thần “Một lần đàm phán, một lần ký kết và một lần phê chuẩn”. Theo đó, nội dung thỏa thuận tại Hiệp định thuế đa phương được áp dụng đồng thời với các hiệp định thuế song phương hiện hành có lựa chọn áp dụng điều khoản sửa đổi trong Hiệp định thuế đa phương. Hiệp định thuế đa phương tồn tại song song với các hiệp định thuế song phương hiện hành, sửa đổi phần áp dụng nhằm thực hiện các biện pháp chống xói mòn cơ sở thuế và chuyển lợi nhuận liên quan tới hiệp định thuế.

Phương pháp tiếp cận sử dụng trong Hiệp định thuế đa phương tuân theo nguyên tắc pháp lý chung, theo đó, khi có 2 quy tắc cùng áp dụng để xử lý một vấn đề thì quy tắc ban hành sau sẽ có giá trị cao hơn (quy tắc pháp luật ban hành sau).

Hiệp định thuế đa phương sửa đổi các hiệp định thuế song phương theo cách thức kết hợp 3 loại điều khoản:

(i) Điều khoản tương thích;

(ii) Điều khoản bảo lưu;

(iii) Điều khoản thông báo.

Cụ thể như sau:

Thứ nhất, điều khoản tương thích xác định mối quan hệ giữa Hiệp định thuế đa phương và các hiệp định thuế song phương theo điều khoản chủ động với các loại sửa đổi của điều khoản tương thích cụ thể sau:

– Điều khoản “thay thế” một điều khoản hiện hành của một hiệp định thuế trong trường hợp hiệp định thuế hiện hành có điều khoản đó.

– Điều khoản “áp dụng đối với” hoặc “sửa đổi” một điều khoản hiện hành của một hiệp định thuế, tức là điều khoản của Hiệp định thuế đa phương thay đổi việc áp dụng một điều khoản hiện hành hoặc sửa đổi một phần nội dung của điều khoản hiện hành trong một hiệp định thuế song phương mà không hoàn toàn thay thế nó.

– Điều khoản áp dụng “trong trường hợp không có” một điều khoản hiện hành của một hiệp định thuế, tức là điều khoản này của Hiệp định thuế đa phương bổ sung thêm một điều khoản cho hiệp định thuế song phương trong trường hợp hiệp định thuế song phương không có điều khoản đó.

– Điều khoản áp dụng “thay thế hoặc trường hợp không có” một điều khoản hiện hành của một hiệp định thuế. Tức là, điều khoản của Hiệp định thuế đa phương sẽ thay thế một điều khoản hiện hành tại một hiệp định thuế hoặc có hiệu lực bổ sung vào một hiệp định thuế song phương trong trường hợp không có điều khoản đó.

Thứ hai, Hiệp định thuế đa phương cho phép các nước được bảo lưu không áp dụng những điều khoản nhất định trong Hiệp định thuế đa phương. Trong trường hợp lựa chọn chọn như vậy thì nước tham gia ký kết Hiệp định thuế đa phương gọi đó là điều khoản bảo lưu.

Thứ ba, nhằm đảm bảo sự minh bạch về các nội dung sửa đổi của Hiệp định thuế đa phương với các hiệp định thuế song phương, việc vận hành điều khoản tương thích sẽ liên kết với việc thông báo quốc gia hoặc vùng lãnh thổ tham gia ký kết đối với hiệp định thuế song phương. Như vậy, việc vận hành Hiệp định thuế đa phương cần sự thông báo của cả hai quốc gia hoặc vùng lãnh thổ tham gia ký kết hiệp định thuế song phương. Tùy theo sự lựa chọn điều khoản tương thích cụ thể hoặc điều khoản bảo lưu mà giá trị hiệu lực của Hiệp định thuế đa phương sẽ được áp dụng hoặc không được áp dụng đối với những nội dung cụ thể của các hiệp định thuế song phương mà các quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thông báo.

Hiệp định thuế đa phương có 7 phần với 39 điều với các nội dung chủ yếu như sau:

Phần I “Phạm vi áp dụng và giải thích thuật ngữ với 2 điều (Điều 1 và Điều 2).

Phần II “Chống tránh thuế thông qua các công cụ tài chính” từ Điều 3 đến Điều 5. Phần này tập trung giải quyết những trường hợp có sự khác biệt về chính sách thuế giữa hai nước ký kết xác định tư cách pháp lý của đối tượng cư trú, giải quyết trường hợp đối tượng cư trú đôi và đề xuất 3 phương án xóa bỏ việc đánh thuế hai lần.

Phần III “Quy định đối với vấn đề lạm dụng Hiệp định” từ Điều 6 đến Điều 11. Phần này giải quyết vấn đề lợi dụng Hiệp định liên quan đến chiến lược thông qua đó một đối tượng không phải là đối tượng cư trú của một nước tìm cách giành được quyền lợi mà một hiệp định thuế do một nước ký kết dành cho đối tượng cư trú của nước đó. Trong đó, trọng tâm là sửa đổi cách diễn đạt lời nói đầu của hiệp định thuế song phương và đề xuất 2 quy tắc chống lợi dụng hiệp định thuế, đó là Quy tắc kiểm tra mục đích chính và Quy tắc giới hạn hưởng lợi đơn giản.

Ngoài ra, còn có những quy định cụ thể khác nhằm ngăn ngừa làm dụng hiệp định thuế song phương như: Giao dịch chuyển lãi cổ phần, thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần hoặc quyền lợi/quyền tham gia phát sinh chủ yếu từ bất động sản, nguyên tắc chống lạm dụng cơ sở thường trú đặt tại vùng lãnh thổ thứ ba, và áp dụng các hiệp định thuế để giới hạn quyền đánh thuế của các đối tượng cư trú của một bên tham gia hiệp định thuế.

Phần IV “Quy định chống việc tránh hình thành cơ sở thường trú” từ Điều 12 đến Điều 15. Phần này trình bày các quy định nhằm thay đổi định nghĩa cơ sở thường trú tại hiệp định thuế song phương nhằm ngăn ngừa tránh hình thành cơ sở thường trú với 3 mô hình tránh thuế cơ bản là:

(i) Tránh hình thành cơ sở thường trú hình thức hợp đồng đại lý hoa hồng và các giao dịch tương tự;

(ii) Tránh tạo thành cơ sở thường trú thông qua các hoạt động được loại trừ nhất định;

(iii) Tách hợp đồng. Đồng thời, phần này cũng đề xuất định nghĩa về đối tượng có quan hệ liên kết để làm căn cứ xác định nghĩa vụ thuế của cơ sở thường trú.

Phần V “Nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hiệp định thuế” gồm Điều 16 và Điều 17. Phần này quy định cơ chế giải quyết tranh chấp theo hiệp định (độc lập với các biện pháp pháp lý thông thường theo quy định của nội luật” thông qua đó nhà chức trách có thẩm quyền của các nước ký kết có thể giải quyết sự khác biệt và những khó khăn liên quan đến việc diễn giải hiệp định thuế trên cơ sở thỏa thuận song phương.

Phần VI “Cơ chế trọng tài” từ Điều 18 đến Điều 26. Đây là một nội dung hoàn toàn mới được quy định để bổ sung cho các hiệp định thuế song phương. Theo đó, trong trường hợp nhà chức trách có thẩm quyền của hai nước ký kết không đạt được thỏa thuận chung thì sẽ thực hiện cơ chế trọng tài bắt buộc; việc áp dụng cơ chế trọng tài đối với các hiệp định chỉ được áp dụng khi cả hai nước ký kết cùng nhất trí lựa chọn.

Phần VII “Điều khoản cuối” từ Điều 27 đến Điều 39. Phần này quy định về ký kết và phê duyệt, lưu chiểu, bảo lưu, thông báo, giải thích và thực hiện Hiệp định thuế đa phương và các quy định về hiệu lực thi hành, rút khỏi Hiệp định và mối quan hệ giữa Hiệp định thuế đa phương với các nghị định thư.

3. Tổ chức thực hiện các hiệp định thuế

Trên cơ sở nội dung của các hiệp định tránh đánh thuế hai lần, cơ quan thuế các nước phải tổ chức thực hiện hiệp định bằng các hoạt động cụ thể. Đó là:

(1) Phổ biến hiệp định và tập huấn nội dung hiệp định cho công chức trong ngành và người nộp thuế để những đối tượng này hiểu và áp dụng hiệp định trong trường hợp có các tổ chức/cá nhân đồng thời là cơ sở thường trú/đối tượng cư trú ở cả hai nước hoặc là cơ sở thường trú/đối tượng cư trú của nước này nhưng thực hiện kinh doanh hoặc có thu nhập hoặc làm việc ở nước ký kết kia [3, tr.28].

(2) Cơ quan thuế trung ương có trách nhiệm tham mưu cho cơ quan có thẩm quyền quy định cụ thể các hồ sơ, thủ tục để người nộp thuế kê khai xác định nghĩa vụ thuế theo đúng nội dung ký kết của các hiệp định.

(3) Cơ quan thuế trung ương phải quy định rõ các quy trình, thủ tục trong ngành để tổ chức thực hiện hiệp định.

(4) Cơ quan thuế các cấp trong quá trình thực hiện các nghiệp vụ quản lý thuế (quản lý kê khai thuế, thanh tra thuế, kiểm tra thuế, hoàn thuế) có trách nhiệm thực hiện đúng nội dung các hiệp định đã ký kết. Cụ thể là:

Thứ nhất, kiểm tra tính thuế đảm bảo đúng nội dung các hiệp định thuế đã ký kết trên các phương diện liên quan đến xác định số thuế phải nộp của người nộp thuế như: xác định cơ sở thường trú, xác định đối tượng cư trú, xác định đối tượng chịu thuế, xác định đối tượng được miễn thuế, giảm thuế, xác định thuế suất…

Thứ hai, thực hiện các biện pháp tránh đánh thuế hai lần theo nội dung cam kết tại các hiệp định thuế.

Thứ ba, trao đổi thông tin với cơ quan thuế các nước, bao gồm đề nghị cung cấp thông tin và cung cấp thông tin theo đề nghị của nước ký kết. Trên cơ sở các thỏa thuận hợp tác đã ký kết, cơ quan thuế các nước cung cấp thông tin theo yêu cầu của nhau. Phạm vi của các thông tin trao đổi có thể rộng. Các thông tin chủ yếu đều liên quan đến việc xác định các căn cứ tính thuế của người nộp thuế. Chẳng hạn như, khi xác định thông tin về các giao dịch liên kết của các công ty đa quốc gia, cơ quan thuế một nước cần thông tin về các giao dịch đã thể hiện trên báo cáo tài chính và các hồ sơ khai thuế cũng như các thông tin khác trong hồ sơ quản lý thuế của cơ quan thuế các nước khác nơi các công ty đa quốc gia có trụ sở, chi nhánh hoặc có các giao dịch liên kết.

Khi xác định trị giá giao dịch theo phương pháp trị giá tính toán, cơ quan thuế nơi hàng hóa nhập khẩu cũng cần xác nhận một số thông tin mà nhà xuất khẩu cung cấp từ cơ quan thuế nơi có hàng hóa xuất khẩu. Các văn bản pháp luật thuế chính thống của một nước cũng rất cần thiết và hữu ích trong quản lý thuế của các nước khác.

4. Phối hợp đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn theo các chương trình hợp tác quốc tế

Đào tạo, bồi dưỡng và đào tạo lại cán bộ thuế là một trong những công việc quan trọng cần làm thường xuyên của cơ quan thuế các nước. Do sự khác biệt về trình độ quản lý và các điều kiện tự nhiên, xã hội khác tác động đến quản lý quản lý thuế nên việc phối hợp đào tạo bồi dưỡng chuyên môn theo các chương trình hợp tác quốc tế giúp cán bộ thuế học hỏi được nhiều kiến thức và kỹ năng tốt khác ở những quốc gia phát triển hơn hoặc học được những kiến thức và kỹ năng đặc thù về quản lý thuế đã được làm rất tốt ở quốc gia khác nhưng chưa từng được áp dụng ở một quốc gia nơi cán bộ thuế được cử đi học áp dụng [3, tr.30].

Thực hiện nội dung hợp tác quốc tế này, một nước có thể dành học bổng để giúp các nước khác đào tạo các khóa chuyên sâu về thuế quốc tế và các kỹ năng, nghiệp vụ quản lý thuế.

Các khóa đào tạo, bồi dưỡng cũng có thể được tài trợ bởi một tổ chức quốc tế và tổ chức tại một quốc gia đăng cai. Các quốc gia khác cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng là các kỹ năng đặc thù về quản lý thuế hoặc những kiến thức mới, hiện đại, những vấn đề mới về thuế và quản lý thuế.

Trong những trường hợp nhất định, căn cứ vào nhu cầu và khả năng của các bên, một hoặc một số nước có thể phải trả chi phí để cử cán bộ đi học tập, bồi dưỡng các khóa học về thuế ở các nước khác.

5. Trao đổi chuyên môn về thuế và hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế về thuế

Tương tự như lý do cần phải có hợp tác quốc tế về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ thuế, do sự khác biệt về trình độ quản lý và các điều kiện tự nhiên, xã hội khác tác động đến quản lý quản lý thuế nên trình độ quản lý thuế nói chung có thể khác biệt giữa các quốc gia và mỗi quốc gia lại có những thế mạnh riêng về kinh nghiệm xây dựng chính sách, pháp luật thuế và tổ chức quản lý thuế. Vì sự khác biệt này, các quốc gia sẽ đều được hưởng lợi khi trao đổi kinh nghiệm quản lý thuế với quốc gia khác và phối hợp trong nghiên cứu khoa học với quốc gia khác.

Hoạt động trao đổi chuyên môn về thuế và trao đổi kinh nghiệm quản lý thuế có thể được tổ chức giữa hai nước hoặc giữa nhiều nước, thông thường là các hoạt động trao đổi lẫn nhau giữa cơ quan thuế của hai nước. Cơ quan thuế nước này cử cán bộ thuế sang nước kia để học tập, trao đổi kinh nghiệm và ngược lại.

Hoạt động hợp tác nghiên cứu khoa học về thuế thường được thực hiện dưới dạng phối hợp nghiên cứu các dự án, các đề án hoặc các vấn đề mới về lý thuyết đánh thuế xuất hiện khi những điều kiện kinh tế – xã hội thay đổi. Các hội thảo khoa học quốc tế về thuế cũng là một trong những hoạt động hợp tác nghiên cứu khoa học quốc tế về thuế. Thông thường, các hoạt động hợp tác này được tài trợ bởi các tổ chức quốc tế thông qua các dự án viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay ưu đãi. Cũng có thể do nhu cầu cần thiết, các quốc gia đầu tư chi phí nghiên cứu và mời quốc gia đối tác cử chuyên gia tham gia nghiên cứu các dự án, đề tài nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực thuế. Các dự án này cũng có thể nhằm nghiên cứu để tư vấn hoàn thiện chính sách cho một quốc gia nhất định [3, tr.31].

6. Phối hợp đàm phán thỏa thuận trước về giá song phương và đa phương

Khi người nộp thuế ở một quốc gia có các giao dịch với các bên liên kết chịu sự điều chỉnh của pháp luật một nước về kiểm soát giá đối với giao dịch liên kết thì người nộp thuế có hai lựa chọn để xử lý về nghĩa vụ thuế đối với các bên có quan hệ liên kết.

 Lựa chọn thứ nhất là: Người nộp thuế phải thực hiện các thủ tục kê khai giá giao dịch của các bên có quan hệ liên kết và xác định giá giao dịch làm căn cứ tính thuế theo các phương pháp xác định giá thị trường và các quy tắc khác chi phối giá giao dịch liên kết theo pháp luật của một nước. Trên cơ sở tài liệu tự kê khai của người nộp thuế, cơ quan thuế thực hiện các thủ tục kiểm tra, thanh tra thuế. Nếu thấy người nộp thuế kê khai đúng thì nghĩa vụ thuế được xác định như số liệu kê khai của người nộp thuế. Nếu phát hiện người nộp thuế kê khai sai (kê khai thiếu giao dịch liên kết, tạo giao dịch độc lập giả mạo…) thì cơ quan thuế thực hiện truy thu và tùy theo quy định pháp luật cụ thể của mỗi quốc gia mà áp dụng xử phạt về thủ tục thuế hoặc phạt hành chính khác theo quy định của pháp luật.

 Lựa chọn thứ hai là: Người nộp thuế chủ động đề nghị đàm phán và ký kết với cơ quan thuế thỏa thuận trước về giá tính thuế (APA – Advanced Pricing Agreement). Kết quả đàm phán sẽ xác định giá tính thuế đối với những giao dịch liên kết của người nộp thuế trong một thời kỳ nhất định và người nộp thuế không phải thực hiện các thủ tục về kê khai giao dịch liên kết hàng năm nữa.

APA là thoả thuận bằng văn bản giữa cơ quan thuế với người nộp thuế hoặc giữa cơ quan thuế một nước với người nộp thuế và cơ quan thuế các nước, vùng lãnh thổ khác đã ký hiệp định thuế với nước đó trong một thời hạn nhất định, trong đó xác định cụ thể các căn cứ tính thuế, phương pháp xác định giá tính thuế hoặc giá tính thuế theo giá thị trường. APA được xác lập trước khi người nộp thuế nộp hồ sơ khai thuế thu nhập doanh nghiệp [3, tr.32].

APA là một trong những phương pháp đảm bảo sự chia sẻ lợi ích giữa người nộp thuế với cơ quan thuế. Tuy vậy, thông thường APA chỉ được áp dụng trong những điều kiện kiện nhất định với những trường hợp nhất định mà không áp dụng APA trong mọi giao dịch liên kết. Các trường hợp thường được áp dụng APA là:

(1) Các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, chuyển giao hoặc chuyển nhượng hàng hóa, dịch vụ trong quá trình kinh giữa các bên có quan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh liên quan đến hàng hoá, dịch vụ thuộc phạm vi mà pháp luật của một quốc gia kiểm soát đặc biệt về giá.

(2) Các giao dịch liên kết riêng biệt.

(3) Nhiều giao dịch liên kết có tính chất phụ thuộc lẫn nhau hợp thành giao dịch tổng thể để phản ánh tính khách quan phù hợp với thực tiễn, thông lệ kinh doanh tương ứng với chức năng, tài sản và rủi ro kinh doanh liên quan đến nghĩa vụ thuế theo kỳ khai thuế phù hợp với quy định của văn bản pháp luật hướng dẫn về việc xác định giá thị trường trong giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết cho mục đích khai thuế.

Có 3 loại APA là APA đơn phương, APA song phương và APA đa phương:

– APA đơn phương là APA được đàm phán và ký kết giữa một cơ quan thuế với người nộp thuế đứng đơn đề nghị áp dụng APA.

– APA song phương là APA được đàm phán và ký kết giữa cơ quan thuế một nước nhất định với một người nộp thuế và một cơ quan thuế đối tác có liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế đứng đơn đề nghị áp dụng APA trên cơ sở các hiệp định thuế.

– APA đa phương là APA được đàm phán và ký kết giữa cơ quan thuế của một nước nhất định với người nộp thuế và nhiều cơ quan thuế đối tác có liên quan đến việc xác định nghĩa vụ thuế của người nộp thuế đứng đơn đề nghị áp dụng APA trên cơ sở các hiệp định thuế.

Như vậy, khi thực hiện APA song phương và đa phương tất yếu phải có sự phối hợp của cơ quan thuế các nước với nhau. Theo đó, cơ quan thuế các nước đối tác phải cử chuyên gia tham gia các cuộc đàm phán với người nộp thuế và cơ quan thuế đối tác. Thông thường các cuộc đàm phán này sẽ khá tốn thời gian và phức tạp, đòi hỏi sự chia sẻ thông tin và nhượng bộ lẫn nhau giữa người nộp thuế với các cơ quan thuế và giữa các cơ quan thuế đối tác với nhau vì trong một số trường hợp việc xác định mức giá có thể làm gia tăng lợi ích một bên trong khi làm giảm lợi ích của bên đối tác.

7. Phối hợp tổ chức các diễn đàn thuế quốc tế

Diễn đàn quốc tế về thuế là các cuộc hội nghị, các cuộc tọa đàm, đối thoại giữa các cơ quan thuế với nhau và với đại diện các doanh nghiệp. Tại các diễn đàn này, cơ quan thuế các nước có thể giới thiệu pháp luật thuế của nước mình với nước khác và với doanh nghiệp của các nước khác để qua đó làm cho các nhà đầu tư hiểu và có thêm thông tin khi quyết định đầu tư. Diễn đàn là nơi để cơ quan thuế các nước giới thiệu những định hướng sửa đổi, hoàn thiện chính sách, pháp luật thuế với các doanh nghiệp đến từ nhiều quốc gia khác nhau. Diễn đàn thuế quốc tế là nơi đối thoại giữa doanh nghiệp, đặc biệt là các công ty đa quốc gia với cơ quan thuế các nước về chính sách thuế và quản lý thuế. Những vướng mắc, những quan điểm được trao đổi để hiểu biết lẫn nhau hơn, qua đó thúc đẩy tuân thủ thuế ở các doanh nghiệp và cải cách thuế từ các chính phủ.

Tham khảo thêm

  1. Bùi Việt Hùng (2020). Hợp tác quốc tế về thuế trong điều kiện hiện nay của Việt Nam. Luận án tiến sĩ Kinh tế (Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng). Học viện Tài chính. Hà Nội.
  2. Nguyễn Thị Phương Linh và cộng sự (2019), Luận cứ khoa học giam gia Hiệp định thuế đa phương về thực thi các biện pháp để chống xói mòn cơ sở thuế và dịch chuyển lợi nhuận đối với Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Bộ Tài chính.
  3. Lê Xuân Trường (2017), “Hội nhập và hợp tác quốc tế về thuế – Xu hướng thế giới và chính sách của Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Học viện, Học viện Tài chính.
Bài viết liên quan / hoặc cùng chủ đề