Tiếp tục chủ đề chính sách thuế và tác động của chính sách thuế đối với phát triển kinh tế bền vững, trong bài viết này Hoa tiêu tri thức sẽ trình bày về kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam về thiết kế chính sách thuế.

1. Kinh nghiệm quốc tế về thiết kế thuế thu nhập

Muốn xây dựng một hệ thống thuế thu nhập phù hợp với điều kiện hiện nay khi Việt Nam đã tham gia các hiệp định song phương và đa phương với hầu hết các nước trên thế giới, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đã là thành viên của các nước tham gia hiệp định đối tác thương mại xuyên Thái bình dương thì việc học hỏi kinh nghiệm của các quốc gia đi trước là một việc hết sức cần thiết và bổ ích. Nghiên cứu sinh sẽ trình bày kinh nghiệm về điều chỉnh thuế thu nhập của quốc tế theo 4 nội dung điều chỉnh, đó là: Điều chỉnh thu nhập chịu thuế, điều chỉnh chi phí được trừ hay các khoản giảm trừ khi tính thuế thu nhập, điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập và điều chỉnh ưu đãi thuế đối với cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.

1.1. Kinh nghiệm quốc tế về điều chỉnh các quy định về xác định thu nhập chịu thuế

– Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp [Nguồn: Tổng cục thuế (2011), Báo cáo tổng kết kinh nghiệm quốc tế về chính sách thuế TNDN, Hà Nội]:

Thu nhập từ chuyển nhượng dự án, quyền thăm dò khai thác, chế biến khoáng sản, chuyển nhượng quyền góp vốn, quyền tham gia dự án, quyền kinh doanh thực chất là những khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, các khoản thu nhập này thuộc diện thu nhập chịu thuế.

Hầu hết các nước chỉ cho phép doanh nghiệp được chuyển lỗ sang năm tiếp theo để trừ vào thu nhập tính thuế và có thể hoặc không bị khống chế số năm được chuyển lỗ. Tuy nhiên, cũng có nước (Pháp, Hàn Quốc, Mỹ) cho phép chuyển lỗ trở về trước với những điều kiện cụ thể (về số tiền tối đa được chuyển lỗ, về thời hạn khai thuế và quyết toán thuế) bởi việc quản lý thuế khá phức tạp.

+ Pháp luật thuế thu nhập doanh nghiệp của các nước đều cho phép trừ các khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp có kèm theo các hoá đơn, chứng từ đồng thời khuyến khích chi cho nghiên cứu và thát triển, đào tạo nghề, khống chế các khoản chi chăm sóc khách hàng và không cho phép trừ các khoản chi mang tính cá nhân. Nhìn chung, quy định về các khoản chi được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp ở các nước ngày càng chặt chẽ, hạn chế tình trạng các doanh nghiệp lợi dụng để trốn thuế.

+ Chi chăm sóc khách hàng: Thái Lan cho phép doanh nghiệp trừ tối đa 0,3% doanh thu nhưng không vượt quá 10 triệu Baht đối với khoản chi chăm sóc khách hàng. Malaysia cho phép doanh nghiệp trừ tối đa 50% tổng số chi chăm sóc khách hàng. Nhật Bản chỉ cho phép các doanh nghiệp có quy mô vốn dưới 100 triệu Yên được trừ chi chăm sóc khách hàng nhưng không quá 3,6 triệu Yên/năm. Các doanh nghiệp lớn không được trừ các khoản chi chăm sóc khách hàng.

+ Chi phí quảng cáo, khuyến mãi: Chi phí quảng cáo, khuyến mãi là chi phí liên quan đến hoạt động sản xuất của doanh nghiệp và hầu hết các nước đều quy định là chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, có nước quan ngại việc doanh nghiệp lợi dụng để giảm nghĩa vụ thuế phải nộp nên khống chế mức khấu trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Chẳng hạn, Trung Quốc khống chế mức khấu trừ chi phí quảng cáo chung là 15% doanh thu hàng năm. Một số ngành (mỹ phẩm, dược, đồ uống giải khát) được phép khấu trừ tối đa 30% doanh thu. Số vượt mức khống chế có thể được chuyển sang khấu trừ vào các năm tiếp theo. Cộng hòa Lít-va cũng chỉ cho phép doanh nghiệp được khấu trừ tối đa 75% chi phí quảng cáo, khuyến mãi.

+ Quy định về khống chế lãi vay đối với doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu thấp: Doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu thấp hay còn gọi là vốn mỏng (thin capitalization) là hiện tượng doanh nghiệp có cơ cấu vốn với tỷ lệ vốn vay (nợ) cao hơn nhiều lần so với vốn chủ sở hữu (vốn tự có). Thực tiễn các nước cho thấy các doanh nghiệp (thường là các công ty thuộc tập đoàn đa quốc gia) chủ yếu sử dụng vốn vay nhưng thực chất là vốn góp của các công ty liên quan nhằm giảm nghĩa vụ thuế phải nộp (do được khấu trừ chi phí lãi vay trước thuế). Từ thực tiễn trên, nhiều nước lo ngại về việc tình trạng thất thu thuế nên chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp ở một số nước quy định phần lãi mà doanh nghiệp trả đối với vốn vay vượt quá tỷ lệ nhất định (về vốn vay trên vốn chủ sở hữu) thì không được coi là chi phí được trừ mà phải được coi là cổ tức khi tính thuế. Canada là nước đầu tiên áp dụng quy định về vốn mỏng từ năm 1971. Úc áp dụng năm 1987, Mỹ áp dụng năm 1989. Hiện nay, hầu hết các nước châu Âu và các nước thành viên OECD đã áp dụng quy định về vốn mỏng. Về tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu, trên thực tế, tỷ lệ này ở các nước rất khác nhau theo các tỷ lệ 2:1, 3:1, 4:1, riêng đối với các tổ chức tài chỉnh có quy định cao hơn là 5:1 hoặc 6:1.

– Đối với thuế thu nhập cá nhân [Nguồn: Tổng cục thuế (2010), Báo cáo tổng kết kinh nghiệm quốc tế về chính sách thuế TNCN, Hà Nội.]:

Nhìn chung quy định về thu nhập chịu thuế của các quốc gia là tương đối tương đồng, bao quát các loại thu nhập như: thu nhập từ tiền lãi; thu nhập từ cổ tức; thu nhập từ kinh doanh; thu nhập từ tiền lương, tiền công; thu nhập từ tiền lương hưu; thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bất động sản; thu nhập từ cho thuê tài sản và thu nhập khác (thừa kế, quà tặng, tiền bản quyền…).

Phạm vi các khoản thu nhập được miễn thuế cũng có sự khác biệt giữa các nước. Bên cạnh việccho phép miễn thuế đối với một số khoản thu nhập (theo điều ước quốc tế, thu nhập từ giải thưởng…) một số quốc gia còn có quy định cho phép miễn thuế đối với một số khoản phụ cấp, trợ cấp không mang tính chất tiền lương, tiền công. Ví dụ, Trung Quốc cho phép miễn thuế đối với trợ cấp thôi việc đối với người lao động hay trợ cấp xuất ngũ đối với quân nhân, trợ cấp định cư đối với cán bộ, công chức nhà nước…

Ngoài ra, một số quốc gia còn có quy định thêm một số khoản thu nhập được miễn thuế có tính chất đặc thù, tùy thuộc vào định hướng chính sách của mỗi nước, ví dụ có nước cho phép miễn thuế đối với thu nhập từ đầu tư vốn (Nam Phi, Ác-hen-ti-na…), thu nhập từ các chương trình tiết kiệm nhà ở dài hạn (Hàn Quốc) hoặc là có doanh nghiệp không thu thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn (Ma-lai-xi-a, Xing-ga-po…). Một số nước còn cho phép thu nhập của hộ gia đình sản xuất nông nghiệp (trong phạm vi nhất định) được miễn thuế (như Hàn Quốc). Một số quốc gia cho phép thu nhập từ việc chuyển nhượng một nhà, đất duy nhất được miễn thuế (Hàn Quốc, Úc) để khuyến khích việc các hộ gia đình cải thiện điều kiện nhà ở.

Về chính sách TNCN đối với thu nhập từ tiết kiệm hưu trí, nghiên cứu ở kinh nghiệm quốc tế cho thấy có hai phương thức thông dụng được các nước áp dụng hiện nay. Phương thức thứ nhất là: “miễn thuế – miễn thuế – đánh thuế” hay là “đánh thuế – miễn thuế – miễn thuế”. Theo phương thức thứ nhất thì cả phần thu nhập dùng để đóng góp cho quỹ và lãi thu được từ quỹ được miễn thuế song thu thuế đối với những khoản lợi ích được hưởng khi rút tiền ra khỏi quỹ. Phương thức thứ hai là “đánh thuế – miễn thuế – miễn thuế”, theo đó các khoản đóng góp không được khấu trừ khi xác định thu nhập tính thuế TNCN nhưng tiền lãi và những khoản lợi ích cá nhân được hưởng khi rút tiền ra khỏi quỹ đều được miễn thuế.

Nhiều nước trên thế giới để khuyến khích tiết kiệm hưu trí đã đưa vào triển khai các chính sách thuế TNCN thuận lợi nhằm đảm bảo các cá nhân trong quãng thời gian đi làm của mình tích lũy đủ tiền để yên tâm khi về hưu, trong đó có việc cho miễn hoàn toàn đối với các khoản đóng góp cho quỹ. Ví dụ, luật thuế TNCN của Trung Quốc cho phép các khoản đóng góp vào quỹ hưu trí được giảm trừ vào thu nhập chịu thuế. Các nước như Thái Lan, Hàn Quốc, Ma-rốc cũng có quy định tương tự cho phép giảm trừ các khoản đóng góp tham gia các quỹ hưu trí ra khỏi thu nhập khi tính thuế TNCN.

Hầu hết pháp luật thuế TNCN của các nước đều có quy định về mức giảm trừ gia cảnh theo các hình thức và cách thức khác nhau. Về phân loại, các khoản giảm trừ gia cảnh TNCN các nước áp dụng được chia thành ba nhóm sau: i) Giảm trừ chung cho cá nhân người nộp thuế (tương tự như mức giảm trừ gia cảnh 4 triệu đồng/tháng cho người nộp thuế ở Việt Nam); ii) các khoản giảm trừ cho người phụ thuộc, như giảm trừ cho con, cho vợ hoặc chồng, cho bố mẹ… (tương tự như mức giảm trừ 1,6 triệu đồng/tháng ở Việt Nam) và iii) các khoản giảm trừ có tính chất đặc thù (ví dụ, giảm trừ cho chi phí y tế, giáo dục…).

+ Các khoản giảm trừ chung cho cá nhân:

Đây là khoản được loại trừ ra khỏi thu nhập tính thuế ở mức tương tự nhau, không xem xét đến “hành vi” sử dụng thu nhập của cá nhân người nộp thuế. Lý do áp dụng các khoản giảm trừ chung thường xuất phát từ lập luận cho rằng mỗi cá nhân cần phải có một mức thu nhập nhất định nhằm đáp ứng được nhu cầu thiết yếu của cuộc sống. Theo một thống kê của IMF, các khoản giảm trừ thường được so sánh với GDP bình quân đầu người. Trung Quốc đã điều chỉnh tăng từ 24.000 NDT/năm (áp dụng từ năm 2008) lên 42.000 NDT/năm (tương đương 6.404 USD hay 1,23 lần GDP bình quân đầu người năm 2011). In-đô-nê-xi-a cũng đã điều chỉnh từ mức 2,88 triệu Rupi/năm (được áp dụng từ năm 2001) lên 15,84 triệu rupi/năm (tương đương 1.830 USD hay khoảng 0,527 GDP bình quân đầu người năm 2011). Ma-lai-xi-a cũng điều chỉnh từ 8.000 RM/năm lên mức 9.000 RM/năm (tương đương 2.687 USD hay khoảng 0,312 lần GDP bình quân đầu người từ năm 2011).

Bảng 1.1: Điều chỉnh mức giảm trừ chung của một số quốc gia

Bảng điều chỉnh mức giảm trừ chung của một số quốc gia

Ghi chú: Tỷ giá quy đổi được lấy từ dữ liệu thống kê của Quỹ tiền tệ quốc tế cho từng năm nên mức giảm trừ quy đổi có thể có sự khác biệt giữa các năm do tỷ giá thay đổi.

+ Các khoản giảm trừ cho người phụ thuộc:

Là các khoản giảm trừ áp dụng cho những người mà đối tượng nộp thuế phải nuôi dưỡng (người phụ thuộc). Tuy nhiên, phạm vi người phụ thuộc của các nước cũng có sự khác biệt và có các tiêu chí khác nhau. Mức giảm trừ quy định cho người phụ thuộc thường được quy định thấp hơn so với mức giảm trừ cho cá nhân người nộp thuế (tương tự như Việt Nam). Song cũng có nước quy định mức giảm trừ cá nhân cho người nộp thuế cũng tương tự như người phụ thuộc (ví dụ, Anh và Mỹ). Nhiều nước khống chế số lượng người phụ thuộc được tính giảm trừ (ví dụ, Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a..), song cũng có nước không khống chế (ví dụ, Mỹ, Anh). Cũng có nước không quy định riêng mức giảm trừ cho người phụ thuộc và cho cá nhân người nộp thuế mà quy định một mức chung (ví dụ, Trung Quốc…).

+ Các khoản giảm trừ đặc thù:

Đây là các khoản giảm trừ mà đối tượng nộp thuế được hưởng khi đáp ứng được một số tiêu chí nhất định, ví dụ như chi tiêu cho các khoản mục mà nhà nước cần khuyến khích (ví dụ cho y tế, giáo dục…). Có quốc gia cho phép giảm trừ các khoản đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế… để khuyến khích người dân tham gia các dịch vụ này; có quốc gia cho phép giảm trừ chi phí giáo dục của con hoặc là có quốc gia cho phép giảm trừ đối với các khoản lãi tiền vay mua nhà trả góp (để khuyến khích người dân sở hữu nhà) hay là các khoản đóng góp từ thiện. Khi xây dựng các khoản giảm trừ đặc thù, phần lớn các nước đều khống chế mức tối đa cho từng loại giảm trừ, ví dụ như cho giáo dục, y tế… (Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Hàn Quốc, In-đô-nê-xi-a…). Để được hưởng các khoản giảm trừ này, người nộp thuế phải xuất trình được các chứng từ liên quan.

1.2. Đối với điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập

– Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp [Nguồn: Võ Văn Kiệt (2015), “Thư của Nguyên Thủ Tướng Võ Văn Kiệt gửi Bộ Chính Trị 1995”, Báo Dân trí, số 08]: Nhìn chung, việc điều chỉnh thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp đã được các nước tiến hành theo xu hướng giảm dần.

 Bảng 1.2: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở một số nước phát triển

Bảng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp ở một số nước phát triểnBảng 1.3: Thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp một số nước châu Á

Bảng thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp một số nước châu Á

– Đối với thuế thu nhập cá nhân [Nguồn: Tổng cục thuế (2010), Báo cáo tổng kết kinh nghiệm quốc tế về chính sách thuế TNCN, Hà Nội]: 

Những năm gần đây, nhiều nước đã thực hiện cắt giảm mức thuế suất để nâng cao tính hấp dẫn của môi trường đầu tư trong nước, thu hút được lao động có kỹ thuật từ bên ngoài (In-đô-nê-xi-a, Singapore, Ma-lai-xi-a, Ba Lan, Cộng hòa Séc…). Một số nước cũng đã thực hiện giảm bớt số bậc thuế. Ví dụ, Trung Quốc trong năm 2011 đã giảm số bậc thuế suất từ 9 bậc xuống 7 bậc (bỏ hai bậc thuế suất là 15% và 40%). Tuy nhiên, cũng có nước gần đây thực hiện tăng số bậc trong Biểu thuế, ví dụ như Xin-ga-po, từ năm 2012, số bậc trong biểu thuế được điều chỉnh từ 6 bậc lên 8 bậc.

Bảng 1.4: Cơ cấu biểu thuế suất thuế thu nhập cá nhân một số nước

Bảng cơ cấu biểu thuế suất thuế thu nhập cá nhân một số nước

Riêng đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bất động sản, phương thức áp dụng thuế TNCN của các nước cũng rất khác nhau. Có quốc gia gộp chung vào thu nhập từ tiền lương, tiền công và áp dụng theo biểu thuế lũy tiến chung (ví dụ, Thái Lan). Có quốc gia tách ra đánh thuế riêng như Việt Nam; đây là phương thức khá phổ biến hiện nay và hiện nay nhiều quốc gia trên thế giới gần đây đã thực hiện cải cách thuế theo hướng này. Cũng có một số nước áp dụng cả hai phương pháp: tính trên thu nhập và tính trên giá trị giao dịch song số lượng các quốc gia áp dụng phương thức này không nhiều.

Nghiên cứu kinh nghiệm của các nước trên thế giới cho thấy đánh thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn và chuyển nhượng bất động sản là vấn đề rất phức tạp. Nhiều phương pháp tính thuế khác nhau đã được các nước áp dụng tuy nhiên phương pháp tính thuế dựa trên thu nhập vẫn là phương pháp phổ thông, được nhiều nước áp dụng nhất (Trung Quốc, Thái Lan, In-đô-nê-xia…). Việc áp dụng cách thức tính thuế dựa trên giá trị giao dịch tuy có áp dụng ở một số quốc gia song thường ít thấy hơn (trong khu vực có Phi-líp-pin và In-đô-nê-xia thực hiện theo cách này).

1.3. Đối với quy định về ưu đãi thuế thu nhập

Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp là việc một quốc gia ban hành một chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp có lợi hơn so với các nước khác nhằm thu hút đầu tư. Về cơ bản có hai quan điểm về chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp: (i) Các nước phát triển phương Tây thường ít áp dụng chính sách ưu đãi thuế vì cho rằng ưu đãi thuế gây méo mó và dễ dẫn đến lợi dụng (ii) Các nước đang phát triển trong đó bao gồm hầu hết các nước châu Á và ASEAN sử dụng biện pháp ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp để thu hút đầu tư, khuyến khích một số ngành nghề, lĩnh vực đặc biệt (công nghệ cao, công nghiệp tiên phong, đặc khu kinh tế,…). Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp ở các nước khá đa dạng. Các hình thức ưu đãi thường được áp dụng ở các nước bao gồm: ưu đãi về thuế suất (cùng với việc cắt giảm thuế suất như trên) cho phép chuyển lỗ, miễn giảm thuế có thời hạn, giảm nghĩa vụ thuế (tax credits), cho phép khấu hao nhanh… [Nguồn: Tổng cục thuế (2011), Báo cáo tổng kết kinh nghiệm quốc tế về chính sách thuế TNDN, Hà Nội].

– Ưu đãi về thuế suất

+ Thuế suất đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa: Nước Pháp quy định doanh nghiệp có doanh thu trước thuế dưới 7.630.000 Euro và có thu nhập chịu thuế dưới 38.120 Euro thì áp dụng mức thuế suất 15%. Trung Quốc quy định thuế suất đối với doanh nghiệp nhỏ là 20%, Thái Lan áp dụng chính sách doanh nghiệp có thu nhập ròng chịu thuế từ 150.001 đến 1.000.000 Baht được hưởng thuế suất 15%, Hàn Quốc quy định doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế đến 200 triệu Won thì áp dụng mức thuế suất 10%.

+ Thuế suất đối với doanh nghiệp hoạt động tại địa bàn và lĩnh vực khuyến khích đầu tư: Nước Pháp quy định thu nhập từ chuyển nhượng bằng sáng chế cũng có mức thuế suất 15%, Trung Quốc có chính sách ưu đãi về thuế suất đối với doanh nghiệp công nghệ cao là 15%.

Tương tự như các chính sách ưu đãi khác, chính sách miễn, giảm thuế có thời hạn của các nước cũng khá khác nhau, cụ thể như sau:

+ Trung Quốc cũng cho phép: (i) miễn thuế trong 1 năm đầu có lãi và giảm 50% số thuế phải nộp trong 2 năm tiếp theo đối với các ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, các liên doanh góp vốn cổ phần hoạt động tại các khu phát triển công nghệ mới và công nghệ cao, hoặc tại các đặc khu kinh tế có thời gian hoạt động từ 10 năm trở lên; (ii) miễn thuế trong 2 năm đầu có lãi và 50% số thuế phải nộp cho 3 năm tiếp theo đối với các doanh nghiệp có thời gian hoạt động từ 10 năm trở lên trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp hoặc tại các địa bàn có điệu kiện kinh tế khó khăn, hoặc các vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa; (iii) miễn thuế trong 5 năm đầu có lãi và giảm 50% số thuế phải nộp cho 5 năm tiếp theo đối với các doanh nghiệp có vận tải, năng lượng, hoạt động trong các đặc khu kinh tế.

+ Ở Thái Lan thời gian hoạt động từ 15 năm trở lên trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cảng, cầu tàu, giao thông, số thuế được miễn trong thời kỳ ưu đãi không được vượt quá số vốn đầu tư của dự án được khuyến khích và thời gian ưu đãi không quá 8 năm. Thông thường các dự án hoạt động ở địa bàn xa trung tâm thường được áp dụng hình thức ưu đãi này.

+ Trong những năm gần đây, Ma-lai-xi-a đã có những điều chỉnh chính sách ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp nhằm thu hút đầu tư trong lĩnh vực: dịch vụ tài chính, giáo dục, y tế, nghiên cứu & phát triển, công nghệ thông tin và truyền thông… Các doanh nghiệp tiên phong đầu tư vào lĩnh vực, sản phẩm khuyến khích đầu tư được hưởng ưu đãi thuế trong vòng 5 năm, kể từ ngày bắt đầu hoạt động với mức thuế suất 7,5% so với mức thuế suất phổ thông 25%. Một số ngành (công nghiệp vũ trụ, công nghệ sinh học…) được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian từ 10 đến 15 năm. Một số doanh nghiệp có vốn đầu tư lớn, khó thu hồi vốn trong thời gian ngắn có thể lựa chọn hình thức ưu đãi thuế khác như giảm trừ thuế đối với vốn đầu tư hoặc giảm trừ tái đầu tư, theo đó doanh nghiệp có thể được giảm trừ tới 60% vốn đầu tư trong thời gian 10 năm. Số giảm trừ chưa hết có thể được chuyển vào các năm tiếp theo (không khống chế số năm).

+ In-đô-nê-xi-a áp dụng chính sách ưu đãi thuế có thời hạn từ 5 đến 10 năm đối với các ngành công nghiệp: Luyện kim, lọc dầu, hóa chất cơ bản, máy công nghiệp, tài nguyên tái tạo, thiết bị viễn thông. Doanh nghiệp đáp ứng các điều kiện sẽ được miễn thuế trong 10 năm kể từ ngày bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh và được giảm thuế 50% cho 2 năm tiếp theo. Điều kiện để được hưởng ưu đãi là: (i) doanh nghiệp được thành lập sau ngày 15/8/2010; (ii) có vốn đầu tư trên 1 nghìn tỷ IDR (tương đương 116 triệu USD) đã được Ban Điều phối Đầu tư phê duyệt; (iii) tối thiểu 10% vốn đầu tư phải được gửi tại ngân hàng tại In-đô-nê-xi-a và không được rút trước khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động sản xuất kinh doanh.

+ Hàn Quốc cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao được miễn 100% thuế thu nhập doanh nghiệp trong thời gian 5 năm, kể từ năm đầu tiên kinh doanh có lãi và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp cho 2 năm tiếp theo.

– Miễn giảm cho các hoạt động phi lợi nhuận (từ thiện, tình nguyện…)

Các tổ chức phi lợi nhuận được hiểu là các pháp nhân được thành lập theo quy định pháp luật quốc gia nhằm tham gia vào một số lĩnh vực của đời sống xã hội, cung cấp dịch vụ vì lợi ích chung của cộng đồng hoặc toàn xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận. Nhìn chung, nhiều nước đều miễn thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ các hoạt động “không mang tính chất kinh doanh” nhằm khuyến khích các tổ chức phi lợi nhuận sử dụng lợi nhuận đó vào mục đích lợi ích công cộng, cụ thể như sau:

+ Đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng chỉ giảm phát thải (CERs)

Nhằm khuyến khích đầu tư công nghệ sản xuất sạch, giảm thiểu lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, đặc biệt là khí CO2, nhiều quốc gia (Thái Lan, Malaysia, Nam Phi, Trung Quốc,…) không áp dụng (miễn) thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ chuyển nhượng Chứng chỉ giảm phát thải (CERs). Chẳng hạn, Thái Lan áp dụng cho 3 năm liên tục, kể từ năm đầu tiên Dự án nhận được công văn phê chuẩn của Tổ chức Quản lý Khí Nhà kính Thái Lan. Nam Phi miễn thuế đối với thu nhập từ chuyển nhượng lần đầu nhưng lần chuyển nhượng tiếp theo bị đánh thuế.

+ Đối với các khoản đóng góp tự nguyện, ủng hộ từ thiện.

Các quốc gia thường không đánh thuế trên các khoản đóng góp từ thiện, tình nguyện. Các tổ chức đóng góp cho các hoạt động này được phép miễn trừ trước khi đánh thuế thu nhập nhằm khuyến khích các hoạt động xã hội các doanh nghiệp và tổ chức tham gia. Việc tham gia đóng góp xã hội là trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong quá trình phát triển của doanh nghiệp nên được Chính phủ các nước ủng hộ. Vì vậy, các khoản đóng góp này được tính vào các chi phí hợp lệ khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp.

2. Kinh nghiệm về thiết kế các chính sách thuế khác

2.1. Kinh nghiệm của Trung Quốc về thuế môi trường và thuế thu nhập nhằm mục tiêu phát triển kinh tế bền vững

Trung Quốc sử dụng các chính sách thuế tài nguyên, thuế thu nhập một cách hiệu quả nhằm hạn chế biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường.

Thuế thu nhập: Các doanh nghiệp khi mua các thiết bị sản phẩm bảo vệ môi trường, tiết kiệm năng lượng, nước, nếu đủ điều kiện có thể được miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp; doanh nghiệp sử dụng tài nguyên tổng hợp, các sản phẩm sản xuất phù hợp với quy định chính sách nhà nước cũng sẽ được tính toán giảm thuế. Ngoài ra, chính sách thuế còn nhằm khuyến khích sản xuất và sử dụng các thiết bị bảo vệ môi trường, khuyến khích tham gia vào các dự án môi trường. Việc thực hiện thuế suất ưu đãi đối với một số ngành công nghiệp, khuyến khích giảm phát thải, hỗ trợ, ngành công nghiệp môi trường, ngành công nghiệp tái chế… có vai trò nhất định chống biến đổi khí hậu.

Thuế Tài nguyên: được xác định bởi số lượng bán ra hoặc số lượng mà các đơn vị hay cá nhân khai thác khoáng sản chịu thuế và sản xuất muối nhằm điều tiết và thúc đẩy khai thác và sử dụng hợp lý tài nguyên khoáng sản.

Bên cạnh những chính sách thuế nêu trên, năng lượng nguyên tử, gió, ánh sáng mặt trời được hưởng những chính sách vô cùng thuận lợi trong năm 2010 khi Trung Quốc muốn tăng việc sản xuất năng lượng sạch lên 15% trong kế hoạch 5 năm lần thứ 12 (2011 – 2015).

Với các quy định trong hàng loạt chính sách nói chung, chính sách thuế trực thu nói riêng, Trung Quốc đã thúc đẩy phát triển và sử dụng năng lượng mới, đẩy nhanh việc loại bỏ các năng lực sản xuất lạc hậu, và hỗ trợ tài chính cho các vùng kinh tế kém phát triển để loại bỏ các năng lực sản xuất lạc hậu, đồng thời, đã góp phần thúc đẩy việc tiêu thụ và sử dụng các sản phẩm tiết kiệm năng lượng, thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của xe dùng năng lượng mới, hướng vào tăng cường vốn đầu tư xã hội vào phát triển kinh tế xanh và hướng dẫn chính quyền địa phương tăng tốc độ xây dựng công trình phòng chống ô nhiễm.

2.2. Kinh nghiệm của Thái Lan đối với việc thiết kế thuế trực thu nhằm bảo vệ môi trường

Trong kế hoạch kinh tế và xã hội quốc gia lần thứ 10 (2007-2011) và Kế hoạch kinh tế xã hội quốc gia lần thứ 11 (2012-2016), Chính phủ Thái Lan đã có chủ trương hướng tới xã hội carbon thấp hay nền kinh tế xanh. Để thực hiện kế hoạch này, Chính phủ đã thành lập Ủy ban ứng phó biến đổi khí hậu do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch, đồng thời triển khai kế hoạch tổng thể 2010 – 2013 về ứng phó biến đổi khí hậu và thành lập tổ chức quản lý khí nhà kính của Thái Lan vào năm 2006. Với riêng hệ thống chính sách thuế trực thu, Chính phủ Thái Lan đã Ban hành các ưu đãi thuế cho Cơ chế phát triển sạch (CDM). Cụ thể: Ngày 9/11/2010, Nội các Thái Lan đã thông qua chương trình Cơ chế phát triển sạch (CDM) cho doanh nghiệp được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp cho 3 năm đầu hoạt động.

Ưu đãi thuế đánh vào máy móc và thiết bị tiết kiệm năng lượng. Trong đó phải kể đến là thuế thu nhập doanh nghiệp. Các công ty có thể khấu trừ lên tới 1,25 lần đầu tư thực tế của họ đối với máy móc và thiết bị tiết kiệm năng lượng.

2.3. Kinh nghiệm của Malaysia về ưu đãi thuế Xuất nhập khẩu nhằm phát triển kinh tế bền vững

Chính sách thuế xuất nhập khẩu của Malaysia quy định hàng loạt các ưu đãi nhằm định hướng tiêu dùng, định hướng nhập khẩu các thiết bị, máy móc nhằm khuyến khích phát triển một số ngành nghề, lĩnh vực mà Malaysia có lợi thế hoặc cần phát triển. Malaysia cho phép tính gấp đôi một số khoản chi phí như: chi phí xúc tiến và phát triển xuất khẩu, chi phí đào tạo cho nhân viên trong doanh nghiệp và các chi phí nghiên cứu và phát triển. Sự phát triển cân đối giữa các vùng/bang của Malaysia cũng được quan tâm khi quy định về thuế cho phép trừ gấp đôi các khoản chi phí vận chuyển của những nhà sản xuất vận chuyển hàng hoá giữa các vùng Sabah, Sarawak và bán đảo Malaysia.

Bên cạnh việc cho tính gấp đôi các khoản chi phí, Malaysia cũng áp dụng những ưu đãi nhất định cho một số lĩnh vực như khai thác mỏ, trồng rừng… Với những lĩnh vực này, các chí có liên quan đều được trừ, không cần biết nó có thoả mãn đủ các điều kiện đặt ra đối với một khoản chi phí hay không. Đây cũng được xem như những chính sách ưu đãi về thuế nhằm đạt đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững.

2.4. Kinh nghiệm của Pháp sử dụng chính sách thuế nhằm bảo vệ tài nguyên và môi trường

Pháp có áp dụng một số chế độ thuế trong đó có sự phân biệt giữa các khu vực kinh tế theo hướng khuyến khích một số ngành nghề, lĩnh vực như:

– Áp dụng mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 0% hoặc thấp hơn mức thông thường đối với những ngành tiết kiệm năng lượng, các công ty có nắm giữ bản quyền sáng chế, các công ty mới được thành lập và những công ty hoạt động ở trong các khu thương mại tự do. Cụ thể: đối với các công ty mẹ nắm giữ quyền sở hữu sáng chế nộp thuế thu nhập với mức thuế suất 19% thay cho mức thông thường là 33,33% (năm 2006) đối với các khoản thu nhập có được từ việc cho thuê quyền sử dụng sáng chế từ các công ty khác. Các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực cho thuê các thiết bị tiết kiệm năng lượng cũng sẽ được miễn thuế đối với phần thu nhập thu đựơc từ các hoạt động này.

Sử dụng các biện pháp giảm trừ – bao gồm cả khấu hao nhanh cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực khai thác khoáng sản, khai thác dầu mỏ và gas, các công ty trong lĩnh vực xuất bản. Quy định về mức khấu hao nhanh cũng được áp dụng đối với một số loại hàng hoá được sử dụng trong một số khu vực kinh tế như phần mềm… Với các công ty khai thác nguồn dầu và gas dự trữ ở Pháp và ở nước ngoài có thể được giảm trừ thu nhập chịu thuế số tiền mà công ty này đã chuyển vào quỹ dự trữ. Mức giảm trừ từ 23,5% doanh số từ bán các sản phẩm dầu và gas khai thác được cho đến tối đa là 50% số lợi nhuận ròng mà công ty thu được từ hoạt động này. Số tiền này sẽ được chuyển vào quỹ và phải được sử dụng trong 2 năm để tài trợ cho việc tìm kiếm các nguồn dự trữ mới hoặc để cải thiện chất lượng khai thác các nguồn dự trữ dầu và gas hiện đang được tiến hành ở các quốc gia này. Quy định này một mặt hỗ trợ cho các doanh nghiệp có nguồn vốn, chủ động trong việc thực hiện các hoạt động liên quan đến khai thác dầu và gas, đồng thời, cũng là một biện pháp để Chính phủ có được nguồn thu ổn định, bền vững trong tương lai từ dầu và gas.

Cho phép giảm trừ khỏi số thuế phải nộp một số khoản tương ứng với chi phí bỏ ra trong các công ty có tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển. Theo quy định, một số khoản chi tiêu trực tiếp và gián tiếp liên quan đến hoạt động nghiên cứu và phát triển được hưởng chế độ khấu trừ thuế với mức tương đương 50% phần chênh lệch về mức chi tiêu đã dành cho hoạt động nghiên cứu và phát triển trong năm so với năm trước liền kề sau khi đã tính đến yếu tố lạm phát.

Các công ty hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, thương mại và nông nghiệp đầu tư cho hoạt động nghiên cứu nhằm đưa ra các sản phẩm dịch vụ thân thiện với môi trường sẽ được hưởng các khoản khấu trừ thuế. Nếu doanh nghiệp không phát sinh nghĩa vụ thuế phải nộp thì sẽ được hoàn bằng tiền mặt đối với các khoản đầu tư này sau 3 năm.

Với các khoản chi tiêu cho hoạt động nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng và chi cho phát triển các hoạt động thí nghiệm – mức khấu trừ được xác định bằng 10% mức chi tiêu trong năm đó cộng thêm 40% của phần tăng lên so với mức chi tiêu trung bình của 2 năm trước đó nhưng tổng cộng không vượt quá 10 triệu euro một năm.

Với các quy định này, các lĩnh vực, ngành nghề có lợi thế của Pháp được ưu tiên phát triển đồng thời chính sách thuế khuyến khích phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường và ưu đãi cho các doanh nghiệp trong lĩnh vực môi trường, đảm bảo vừa phát triển kinh tế vừa gắn với bảo vệ môi trường.

3. Những bài học rút ra cho Việt Nam

3.1. Thuế phải rõ ràng, minh bạch và dễ thực hiện

Hệ thống thuế của hầu hết các nước đều tuân thủ theo những yêu cầu chung của WTO, đảm bảo tính công bằng, minh bạch. Trong luật thuế thu nhập cá nhân cũng như thuế thu nhập doanh nghiệp đều không có sự phân biệt giữa cá nhân nước ngoài hay cá nhân trong nước, giữa doanh nghiệp nước ngoài hay doanh nghiệp trong nước. Đối tượng nộp thuế được quy định căn cứ vào đối tượng cư trú. Căn cứ này sẽ bao quát và dễ xác định được đối tượng nộp thuế.

Cá nhân kinh doanh là đối tượng nộp thuế của thuế thu nhập cá nhân chứ không phải là đối tượng nộp thuế của thuế thu nhập doanh nghiệp. Điều này cần làm rõ để tránh tình trạng đánh thuế hai lần trên một khoản thu nhập của cá nhân kinh doanh. Theo nguyên tắc minh bạch hóa, thì WTO quy định trong hệ thống thuế thu nhập phải phân định rõ đối tượng chịu thuế. Hệ thống thuế thu nhập gồm có thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Về vấn đề này, hiện nay giữa luật thuế thu nhập của Việt Nam và quan điểm của WTO có đôi chút khác biệt. Theo như quan điểm của tổ chức thương mại thế giới thì công ty hợp danh hay doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân mà chỉ là thể nhân nên phải chịu thuế thu nhập cá nhân. Tuy nhiên, trong hệ thống thuế thu nhập của Việt Nam thì doanh nghiệp tư nhân hay công ty hợp danh phải chịu thuế thu nhập doanh nghiệp chứ không phải là thuế thu nhập cá nhân. Có thể nói rằng đây là một trong những bất lợi cho khoản thu nhập của các doanh nghiệp tư nhân hay các công ty hợp danh. Ta thấy rằng, thu nhập của các loại hình doanh nghiệp này cũng chính là một khoản thu nhập chính của những người đứng đầu doanh nghiệp, như vậy những người này vừa phải đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, vừa phải đóng thuế thu nhập cá nhân cho cùng một khoản thu nhập.

Ngoài ra, hệ thống thuế thu nhập cần phải xác định một mức thuế suất hợp lý. Thuế thu nhập bị chi phối trực tiếp bởi các chính sách kinh tế, xã hội của Nhà nước, do đó, trong khi thiết kế nên có thuế suất phổ thông, có các mức thuế suất phù hợp, có các trường hợp ưu đãi, miễn và giảm thuế. Quy định như vậy là cần thiết để tác động tích cực đến các thể nhân và các pháp nhân. Đối với các doanh nghiệp, với chính sách như vậy sẽ tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước, sẽ tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp mới thành lập và tạo thêm tiềm lực tài chính cho các doanh nghiệp đang hoạt động đổi mới thiết bị, bổ sung vốn đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Ngoài ra, với mức thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp hợp lý còn tránh được tình trạng các doanh nghiệp sử dụng hình thức chuyển giá để tránh thuế, các doanh nghiệp sẽ tiến hành nâng giá nguyên liệu, sản phẩm đầu vào sao cho lợi nhuận ở các quốc gia có thuế suất cao là thấp nhất, như vậy quốc gia áp dụng mức thuế suất cao sẽ bị thất thu. Với mức thuế suất thuế thu nhập cá nhân phù hợp sẽ không làm ảnh hưởng đến nỗ lực lao động, đến tiết kiệm và đầu tư. Việc đánh thuế thu nhập cá nhân đánh trực tiếp vào thu nhập của mỗi người. Đây là vấn đề hết sức nhạy cảm, nó có thể triệt tiêu động lực lao động là tiền lương, nó có thể làm giảm nguồn đầu tư phát triển kinh tế khi lợi nhuận từ vốn cho vay bị đánh thuế…

3.2. Thuế suất thuế thu nhập nên điều chỉnh giảm dần nhằm dưỡng nguồn thu

Đối với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp các nước đang có xu hướng giảm dần xuống 25% thậm chí dưới 25% như Thái Lan, Hàn Quốc… Thuế suất thuế thu nhập giảm sẽ khuyến khích đầu tư trong nước cũng như thu hút đầu tư nước ngoài và phù hợp với mặt bằng chung các nước trong khu vực.

Đối với thuế thu nhập cá nhân do mỗi nước có điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau nên cách tính thuế thu nhập cá nhân cũng khác nhau. Trung Quốc chia thành 9 bậc thuế suất thấp nhất là 5%, cao nhất là 45%, Hàn Quốc chia thành 4 bậc với thuế suất thấp nhất là 10%, cao nhất là 40%. Do Việt Nam cũng có điều kiện kinh tế – xã hội tương tự Trung Quốc, đều là nền kinh tế chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa, tập trung đổi mới sang nền kinh tế thị trường, do đó Việt Nam nên áp dụng cách tính thuế thu nhập cá nhân của Trung Quốc nhưng phải dựa trên điều kiện thực tế của Việt Nam. Điều này đã được thể hiện trong Luật thuế thu nhập cá nhân của Việt Nam điều chỉnh thuế suất theo hướng giảm thuế suất cao nhất, thấp nhất và tăng bậc thuế suất, thống nhất biểu thuế đối với người Việt Nam và người nước ngoài.

3.3. Miễn giảm thuế thu nhập phải đúng đối tượng và công khai

Các nước đều xác định các đối tượng được miễn giảm thuế thu nhập thường là diện có trách nhiệm phải nuôi dưỡng các đối tượng khác. Tuy nhiên, các đối tượng được miễn giảm không phải cho cả các hộ nghèo hay khó khăn vì các nhóm đối tượng này sẽ được ưu đãi hay miễn thuế hoặc được trợ giúp bằng các chương trình từ thiện hay trợ cấp khác. Để xác đúng đối tượng được miễn giảm thường phải có các điều kiện kèm theo và công khai công bố các diện và thủ tục xin miễn giảm thuế thu nhập. Nguyên tắc các đối tượng này về cơ bản là thuộc diện có thu nhập chịu thuế nhưng có điều kiện được miễn giảm do thực hiện các nghĩa vụ khác. Việc xác định đối tượng miễn giảm không bị lạm dụng thành cơ chế xin – cho nếu không có cơ chế giám sát kiểm tra nội bộ chặt chẽ.

3.4. Các ưu đãi thuế thu nhập phải hợp lý với mục đích từng thời kỳ

Các ưu đãi về thuế thu nhập phụ thuộc vào từng điều kiện và mục đích của Chính phủ trong việc tạo ra các ưu đãi của mỗi nước. Tuy nhiên, những ưu đãi đưa ra phải đảm bảo công bằng giữa các đối tượng, đảm bảo đúng các chuẩn mực của quốc tế nhằm thể hiện được sự giúp đỡ các đối tượng khó khăn nhưng theo quy định của Tổ chức thương mại thế giới. Các nội dung này cũng tương tự như đối tượng được miễn giảm thuế thu nhập nhưng cần xác định nội dung, điều kiện, thủ tục và thời hạn. Những ưu đãi và miễn giảm thuế thường không nên quá dài và quá rộng vì dễ tạo sức ỳ và tâm lý dựa dẫm vào trợ giúp của Chính phủ và xã hội.

Bài viết liên quan