Trong bài viết này, Hoa tiêu tri thức sẽ phân tích 5 nguyên tắc, nội dung và các điều kiện cần thiết để đảm bảo hiệu quả việc dạy học Thủ công theo hướng phát huy tính sáng tạo ở tiểu học.

1. Nguyên tắc dạy học Thủ công theo hướng phát huy tính sáng tạo

Nguyên tắc 1: Dạy học vì sự sáng tạo gắn với các giá trị của phát triển bền vững

David Orr (1993) đã ghi nhận mối liên hệ của giáo dục sáng tạo gắn với các giá trị của phát triển bền vững trong tuyên bố: “học sinh thế kỉ 21 sẽ cần phải biết làm thế nào để tạo ra một nền văn minh sử dụng ánh sáng mặt trời, bảo tồn năng lượng, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ đất và rừng, phát triển kinh tế địa phương bền vững và phục hồi các tổn thương gây ra trên trái đất. Để đạt được nền giáo dục sinh thái như vậy chúng ta cần chuyển đổi các nhà trường..” [2, tr.16]. Theo quan điểm của ông, sự phát triển ngày nay đòi hỏi những con người sáng tạo, với các giải pháp sáng tạo. Việc giáo dục con người sáng tạo cho một tương lai tốt đẹp hơn dựa trên nhận thức và thái độ đúng đắn về các vấn đề môi trường và sự mất cân bằng sinh thái, cùng với các hành động của cá nhân để thực hiện điều này [3, tr.78].

Những thảo luận về việc trẻ em cần suy nghĩ về sự phát triển bền vững thông qua các bài học thiết kế thủ công cũng đã được đưa ra. Ngoài các ưu thế cho giáo dục sáng tạo, đây được xem là các môn học có “tính định hướng tương lai (‘future-oriented’ subject) trong đó trẻ được yêu cầu tưởng tượng xem mọi thứ có thể trở nên khác biệt và tốt hơn thế nào qua việc làm các sản phẩm sáng tạo từ các chất liệu đời sống [4, tr.166-167]. Tuy nhiên, trên thực tế sự khác biệt giữa điều trẻ nói (biết) và làm là khá phổ biến; chẳng hạn việc trẻ thường xuyên sử dụng lãng phí các chất liệu trong một công việc thiết kế (như cắt một vòng tròn ở giữa một tờ giấy hay tấm thẻ có thể làm hỏng chúng) do thiếu liên kết các ý tưởng liên quan đến bảo vệ môi trường (ví dụ như việc phá rừng) và các lựa chọn cá nhân của trẻ (nên sử dụng bao nhiêu giấy và sử dụng như thế nào). Vì lẽ đó, khi thực hiện dạy học Thủ công, giáo viên cần suy ngẫm về việc làm thế nào để tổ chức một lớp học làm các sản phẩm hay dự án Thủ công mà có thể khơi gợi Tính sáng tạo của học sinh, đồng thời góp phần nâng cao hiểu biết của trẻ về môi trường và giáo dục các hành động để bảo vệ môi trường.

Nguyên tắc 2: Dạy học chú trọng tính thực hành trải nghiệm

Erikson tin rằng trẻ em trong giai đoạn sáng tạo và định hình năng lực (từ mẫu giáo đến tiểu học) cần có những công cụ thật và nhiệm vụ thật để có thể phát triển các năng lực của mình. Các em sẽ cảm thấy tự tin và gia tăng cảm thức về khả năng của bản thân mỗi khi các em thuật lại những việc mình có thể làm và làm được. Điều này cũng được chia sẻ trong quan điểm của Maria Montessori: bà tin rằng trẻ học tốt nhất là qua làm việc và qua việc làm đi làm lại để biến nó thành trải nghiệm của chính mình và để phát triển các kĩ năng và các năng lực [5], [6]. Để khuyến khích sự tự tin và sáng tạo của học sinh trong học Thủ công, giáo viên cần lưu ý:

– Thiết kế nội dung học tập vào các vật/việc hay sự kiện đang diễn ra và gắn với đời sống thực tiễn của học sinh trong lớp.

– Đưa ra các nhiệm vụ thật (có mục đích: làm các sản phẩm hay dự án Thủ công liên quan đến những thứ trong thực tế và chú trọng vào việc thực hành).

– Đưa ra những công cụ và chất liệu thực (có thể dùng được); tạo cơ hội cho trẻ thao tác trực tiếp với các công cụ, chất liệu trong quá trình học Thủ công tại lớp.

– Cung cấp các cơ hội để trẻ có nhiều trải nghiệm về thế giới thực – điều này không có nghĩa là cứ phải đi ra ngoài thực tế mà có thể diễn ra ngay trong trường học; chẳng hạn với dạy học Thủ công đó có thể đơn giản là việc thực hành nấu ăn với trẻ, làm các mô hình nhà cho thú nuôi hay chỉ là cho trẻ làm một dự án về xây dựng nhân có các hoạt động xây dựng nhà ở tại địa phương.

Nguyên tắc 3: Dạy học tính đến những khác biệt cá nhân

Theo Piaget (1973), mỗi đứa trẻ có tốc độ phát triển riêng, những khác biệt trong quá trình phát triển dàn trải trên một phổ rộng. Điều này cũng được chia sẻ trong quan điểm của Vygotsky về vùng phát triển tiềm năng của trẻ. Tuy nhiên trong thực tế, các giáo viên thường xây dựng nội dung chương trình giảng dạy thích hợp với lứa tuổi mà họ dạy (dùng hướng dẫn cho nhóm lớn với các mục tiêu được qui định sẵn cho mọi học sinh) nhưng thường họ rất dễ quên những khác biệt diễn ra từng ngày ở trẻ [6]. Điểm khác biệt của Dạy học theo hướng phát huy tính sáng tạo là quan tâm và nhấn mạnh việc học tập của từng học sinh, vì vậy vấn đề không phải là giải quyết nội dung SGK mà là các trải nghiệm học tập khác nhau của từng học sinh trong lớp học, nghĩa là mỗi học sinh có được học tập thực sự hay không. Để thực hiện nguyên tắc này, giáo viên cần lưu ý:

– Đặt ra những mục tiêu và kì vọng phù hợp với những khả năng riêng của từng trẻ trong lớp.

– Đưa ra các yêu cầu và câu hỏi mở, các lựa chọn khác nhau để học sinh được tự do sáng tạo trong công việc làm sản phẩm Thủ công theo khả năng và sở thích riêng.

Nguyên tắc 4: Dạy học theo hướng mở và có tính thách thức

Nếu phân loại học sinh thành ba nhóm: khá, trung bình, kém thì nội dung của bài học thường nhằm vào các học sinh ở mức khá của nhóm học sinh trung bình. Và giáo viên cũng thường chuẩn bị kế hoạch bài học nhằm vào nhóm đối tượng học sinh này. Xét theo đó thì không phải tất cả mà chỉ có nhóm học sinh trung bình có thể học thực sự. Số còn lại không thể học thực sự bởi nội dung đó là quá dễ với các em ở nhóm khá giỏi, nhưng lại quá khó với các em thuộc nhóm kém trong lớp. Với các phương pháp dạy học truyền thống theo kiểu truyền dạy trực tiếp như thuyết trình, giảng giải khó có thể giải quyết được vấn đề này [7]. Để khuyến khích phát lộ năng lực của tất cả học sinh trong lớp, giáo viên cần:

– Đề ra các yêu cầu, nội dung học tập ở mức độ cao hơn so với mức thông thường. Mục đích để tất cả học sinh trong lớp đều có thể học tập thực sự và phát huy khả năng sáng tạo qua việc giải quyết các vấn đề theo nhiều cách khác nhau, tích cực thảo luận và hợp tác cùng nhau để thực hiện các yêu cầu có tính thách thức cuối giờ học.

– Xây dựng các hoạt động mở (open-ended) và đặt câu hỏi mở (open-ended questions): Các hoạt động mở là hoạt động không có kết quả hay sản phẩm xác định, câu hỏi mở là câu hỏi không có câu trả lời xác định. Khác với câu hỏi đóng chỉ có một câu trả lời đúng hoặc duy nhất; kiểu câu hỏi “Em thấy việc đó như thế nào?” là câu hỏi mở, giáo viên hỏi về suy nghĩ của trẻ và không biết trước trẻ sẽ trả lời như thế nào. Các hoạt động mở và câu hỏi mở sẽ hỗ trợ sự phát triển nhận thức của trẻ vì chúng buộc trẻ phải tư duy, đặc biệt là tư duy linh hoạt. Thay vì đặt trẻ vào vị trí đúng hay sai, chúng sẽ đặt trẻ vào vị trí tra hỏi, tìm kiếm các khả năng có thể. Chúng giúp trẻ nhìn vào nhiều mặt của cùng một việc, liên hệ hoặc hình dung về các nguyên nhân hay hệ quả để điều chỉnh sự hiểu biết dựa trên những thông tin mới thu nhận được, nhờ đó trẻ dần nhìn nhận thế giới khách quan và toàn diện hơn [6].

Nguyên tắc 5: Tăng cường học tập hợp tác trong lớp học

Để tất cả học sinh có thể hoàn thành các yêu cầu ở mức cao, một gợi ý cho giáo viên là phân phối các chủ đề và nội dung học tập một cách khoa học và chặt chẽ, chia bài học thành từng phần nội dung khác nhau, giải quyết nhanh phần này và dành thêm thời gian cho phần kia. Điều này sẽ giúp giải quyết vấn đề thời gian cho các bài học theo quy định của chương trình [7]. Ngoài ra một phương án hiệu quả được tính đến là đưa “học tập cộng tác” vào lớp học. Khác với kiểu hoạt động nhóm truyền thống (học sinh cùng giải quyết một nhiệm vụ và đi đến một đáp án chung), học hợp tác giúp phát triển các ý tưởng của cá nhân thông qua việc cùng chia sẻ, trao đổi các ý kiến trong nhóm nhỏ. Trong học hợp tác, một thành viên trong nhóm phát biểu ý kiến của mình, các em khác sẽ chăm chú lắng nghe, sau đó mỗi em tiếp thu các ý kiến khác nhau và xây dựng ý kiến riêng của mình. Kiểu học tập cộng tác rất phù hợp với đặc điểm Thủ công là có tính thực hành, trực quan cao. Khi một bạn nào đó chưa biết cách làm sản phẩm, các bạn khác sẽ giải thích, hướng mẫu mẫu cho bạn xem. Đây là cơ hội cho học sinh trải nghiệm việc giảng dạy và nhờ đó, tất cả học sinh trong lớp đều có thể có được sự hỗ trợ để học thực sự và hoàn thành các yêu cầu ở mức cao.

2. Nội dung dạy học Thủ công theo hướng phát huy tính sáng tạo

Để khuyến khích Tính sáng tạo của học sinh, có một số yêu cầu và gợi ý khi xây dựng nội dung học tập Thủ công ở tiểu học như sau [4], [8], [9]:

– Thiết kế nội dung Thủ công ở tiểu học theo định hướng phát triển năng lực, trong đó tính đến nhu cầu, hứng thú và sự khác biệt cá nhân của trẻ.

– Tính cơ bản, nền tảng: Thiết kế nội dung Thủ công dựa trên chọn lọc những kiến thức, kĩ năng thực hành cơ bản, phù hợp đặc điểm môn học và khả năng của học sinh.

– Tính đồng tâm và phát triển: Thiết kế các yêu cầu, mức độ nội dung học tập Thủ công có sự nâng cao và mở rộng qua từng bài học trên cơ sở tiếp nối những kiến thức, kĩ năng cơ bản của các bài học trước đó.

– Tính thực hành, thực tiễn: Khi lập kế hoạch, cần tạo sự kết nối giữa nội dung bài học với vốn kinh nghiệm và cuộc sống của trẻ; tạo cơ hội cho trẻ được trải nghiệm và vận dụng kiến thức, kĩ năng thực tế vào việc làm sản phẩm, đồng thời ứng dụng sản phẩm đó vào đời sống hàng ngày của học sinh.

– Tính tích hợp: Phát triển các liên kết chéo giữa nội dung Thủ công với các môn học và lĩnh vực khác trong chương trình.

– Tính mở: Xây dựng nội dung học tập Thủ công theo hướng mở, bao gồm và phân chia theo các mức độ và các loại hình hoạt động Thủ công đa dạng; ví dụ:

+ Theo yếu tố và nguyên lí tạo hình cơ bản: đường nét, hình, khối, màu sắc, không gian; cân bằng, tương phản, đậm nhạt, tỉ lệ, bố cục…

+ Theo thể loại: làm sản phẩm Thủ công từ giấy bìa, vải sợi, vật liệu tự nhiên, vật liệu nhân tạo, phế liệu, đồ tái chế…

+ Theo quy trình/kĩ thuật thực hành: làm sản phẩm Thủ công 2D/3D; gấp giấy; cắt, xé dán tranh; đan nan; làm giấy cuộn…

+ Làm dự án hoặc sản phẩm Thủ công sáng tạo theo chủ đề: đồ dùng trong gia đình, đồ dùng cá nhân, đồ chơi, thiệp giấy…

3. Điều kiện của dạy học Thủ công theo hướng phát huy tính sáng tạo

Điều kiện 1: Môi trường học tập sáng tạo

Để khuyến khích và hỗ trợ sự sáng tạo của mỗi học sinh trong học tập Thủ công ở lớp học, có một số gợi ý giáo viên nên [4, tr.176], [9, tr.64]:

– Cảm thấy vui và hài lòng với các ý tưởng, không gian, thời gian và nguồn lực đang có (về môi trường, điều kiện, phương tiện, công cụ, vật liệu và chất liệu…).

– Phối hợp sử dụng các vật liệu, chất liệu có sẵn ở địa phương và vật liệu sưu tầm, tái sử dụng.

– Tăng cường sử dụng các phương tiện, đồ dùng học tập với sử dụng thiết bị công nghệ, nguồn internet một cách phù hợp trong tiến trình dạy học Thủ công.

– Xây dựng và phát triển một “hệ thống hỗ trợ sáng tạo” (creative ecosystem) cho các hoạt động thực hành Thủ công của học sinh tại lớp như:

Hệ thống hỗ trợ sáng tạo” (creative ecosystem)

Điều kiện 2: Định hướng về phương pháp dạy học

Các phương pháp giảng dạy hiện nay nhìn chung được chia thành hai loại [7], [10]: Thứ nhất, phương pháp dạy học tiến bộ (progressive teaching methods) bao gồm các phương pháp hướng vào người học, có liên quan và thúc đẩy tính tích cực sáng tạo, sự tự do và tự thể hiện bản thân của học sinh (ở đây giáo viên giữ vai trò là người dẫn dắt chứ không áp đặt học sinh phải học). Phương pháp này thường khuyến khích các hoạt động học khám phá, đi dã ngoại, đóng vai, làm việc nhóm và học qua trải nghiệm… Thứ hai, phương pháp dạy học truyền thống (traditional methods of teaching) lại nhấn mạnh vai trò của giáo viên, trong đó thường gồm các hoạt động giảng bài, hỏi đáp, kể chuyện, trình diễn… Nhóm phương pháp này liên quan với việc giảng dạy chính thức (formal instruction) các nội dung, kiến thức và kĩ năng đặc thù của môn học hoặc lĩnh vực học tập – đây là sự giáo dục trẻ nhận được từ bối cảnh lớp học và theo một chương trình được xây dựng sẵn; những thứ khác ngoài phần định sẵn hay ngoài bối cảnh đó là giảng dạy không chính thức (informal instruction).

Tính sáng tạo là sự nỗ lực dựa trên kiến thức, kĩ năng thực hành và các kĩ thuật khác nhau – những điều này đôi khi được dạy tốt nhất thông qua giảng dạy chính thức thường thấy trong các phương pháp truyền thống; nhưng nếu chỉ có giảng dạy chính thức không thôi thì sẽ không thể khuyến khích sáng tạo và có thể kìm hãm nó. Theo NACCCE (1999), trong tất cả việc dạy học sáng tạo ở nhà trường có sự cân bằng giữa việc giảng dạy chính thức các nội dung, kiến thức và kĩ năng (đặc trưng của kiểu dạy học truyền thống) với cung cấp cho người học sự tự do để hỏi, điều tra, thử nghiệm và thể hiện những suy nghĩ và ý tưởng của riêng họ (đặc trưng của kiểu dạy học tích cực). Nói cách khác, trong suy nghĩ về bản chất của Dạy học theo hướng phát huy tính sáng tạo, một điều quan trọng là cần vượt ra khỏi những phân chia tách biệt cho dạy học truyền thống hay tích cực và thấy được sự cần thiết có các yếu tố của cả hai phương pháp này.

Xét trong phạm vi nhà trường, việc đổi mới dạy học tích cực hiện nay đặt ra yêu cầu với phương pháp dạy học các môn học đó là phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh. Từ các đặc trưng của Thủ công (mục 1.4), có thể rút ra những điểm cần lưu ý về chiến lược và phương pháp dạy học như sau [9, tr58-60]:

– Có tác dụng kích thích trí tưởng tượng và tư duy hình ảnh, phân tích, phản biện trong quá trình quan sát, đánh giá các sản phẩm

– Phát triển tư duy sáng tạo và giải quyết vấn đề của học sinh qua việc nảy sinh nhiều ý tưởng và phương án làm sản phẩm khác nhau.

– Dạy học sinh những kiến thức và kĩ năng thực hành mới nhưng theo cách giúp trẻ tự giải quyết vấn đề của riêng chúng; liên hệ và kết nối được kiến thức, kĩ năng của môn học với các môn học khác và với các vấn đề trong thực tiễn.

– Tích hợp, lồng ghép lí thuyết, thực hành và thảo luận nghệ thuật; chú trọng tổ chức các hoạt động thực hành sáng tạo thông qua trải nghiệm đa giác quan.

– Đa dạng hóa không gian và hình thức học tập (trong lớp, ngoài trường; học cá nhân/nhóm, tọa đàm, thảo luận, chơi trò chơi, hội thi, triển lãm, trưng bày sản phẩm…).

– Tăng cường sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học đặc thù của lĩnh vực giáo dục Nghệ thuật/Thủ công nhằm phát triển ở học sinh các năng lực: quan sát và nhận thức thẩm mĩ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ, phân tích và đánh giá thẩm mĩ…

– Sử dụng phương pháp quan sát: Đây là phương pháp đặc thù trong dạy học Thủ công để phát triển ở học sinh năng lực thị giác khi khám phá các sản phẩm Thủ công.

+ Tuỳ theo nội dung, mục đích dạy học và khả năng nhận thức của học sinh mà cần đặt ra các yêu cầu quan sát một cách phù hợp.

+ Khi tổ chức dạy học Thủ công, cần tạo cơ hội để học sinh được quan sát, khám phá các đối tượng khác nhau (tranh ảnh, mô hình, các sản phẩm đã có, các đồ dùng, chất liệu…) ở xung quanh và trong đời sống hàng ngày.

+ Hướng dẫn học sinh cách thức quan sát từ tổng thể đến chi tiết/bộ phận và đối chiếu, so sánh để tìm ra đặc điểm, hình dung cách làm hay cách sử dụng các sản phẩm đó.

+ Cần kết hợp với các phương pháp dạy học khác nhằm kích thích nhu cầu khám phá, tư duy phản biện và tư duy đa chiều trong quá trình quan sát, so sánh, đánh giá các sản phẩm.

– Sử dụng các câu hỏi kích thích hứng thú học tập (Đó là gì? Ở đâu? Như thế nào…), các câu hỏi mở để kích thích tư duy sáng tạo của học sinh.

– Sử dụng đa dạng các phương pháp tiếp cận và khám phá Nghệ thuật/Thủ công: thảo luận, nêu vấn đề, biểu đạt, tái hiện, thuyết minh, viết/vẽ, internet…

– Sử dụng các câu chuyện, giai thoại nghệ thuật liên quan đến tác giả, tác phẩm, sản phẩm nghệ thuật (lịch sử, truyền thống văn hoá, bối cảnh xã hội…).

– Khi tổ chức dạy học Thủ công, cần xem xét các yếu tố kích thích khả năng sáng tạo của học sinh: như các kênh học tập (đa giác quan), các phong cách học tập, môi trường và phương thức học tập (học qua sơ đồ tư duy, thảo luận, giải quyết vấn đề, học tích hợp, học theo dự án…). Các yếu tố này cần được cân nhắc theo các mức độ phù hợp với từng lứa tuổi học sinh và bối cảnh thực tiễn lớp học.

– Quan tâm đến sự khác biệt và đa dạng về văn hóa, giới tính, đặc điểm vùng miền, thời đại…

– giáo viên cần có những hướng dẫn cụ thể để học sinh chủ động chuẩn bị sẵn sàng cho việc thực hành sáng tạo (về môi trường, phương tiện, các điều kiện, nội dung…).

Tóm lại, việc sử dụng các phương pháp dạy học trong dạy học Thủ công cần kết hợp với quan sát, thảo luận và thực hành sáng tạo nghệ thuật nhằm khuyến khích học sinh khám phá, thử nghiệm, giao tiếp và hợp tác, tư duy linh hoạt và sáng tạo để giải quyết vấn đề.

Có nhiều phương pháp, kĩ thuật dạy học sáng tạo phù hợp với đặc điểm dạy và học Thủ công mà giáo viên có thể vận dụng như [4], [11], [12], [13]: Dạy học dựa vào dự án, công não, sơ đồ tư duy, phương pháp 6 chiếc mũ tư duy (Six Thinking Hats), phương pháp tư duy sáng tạo theo đội hay tranh luận ủng hộ – phản đối (Ideas Management), kĩ thuật Starbursting (ngôi sao sáu cánh 5W1H).. Phần này sẽ được tiếp tục làm rõ hơn thông qua các đề xuất ở chương 3 của luận án.

Điều kiện 3: Giáo viên sáng tạo trong lớp học

Một điều rõ ràng rằng để phát huy Tính sáng tạo của học sinh thì giáo viên cũng phải là người dạy sáng tạo và bản chất dạy học là một công việc sáng tạo bởi tính năng động của nó. Thật vậy, đã có những thay đổi trong nền giáo dục mới hiện nay khi tiến hành bài dạy: ngoài các vấn đề cần nghiên cứu về kế hoạch bài học, phương tiện và kĩ thuật dạy học còn cần nghĩ đến một vấn đề mới đó là tính năng động của bài học. Đây là thuật ngữ để chỉ thực tiễn của lớp học, của giáo viên và học sinh – đó là chuỗi sự kiện, hành động và câu chuyện diễn ra liên tục trong lớp, như giáo viên cư xử ra sao, từng học sinh phản ứng thế nào, các em học được gì và học như thế nào. Các bài dạy hay giờ đây không chỉ dựa vào vấn đề kĩ thuật mà đòi hỏi giáo viên phải có khả năng chấp nhận học sinh như một con người độc lập và độ nhạy cảm của giáo viên đối với những tình huống học tập thường xuyên thay đổi của học sinh trong lớp [7]. Điều này đòi hỏi giáo viên phải thường xuyên suy ngẫm về hoạt động dạy của mình, về các hoạt động học tập của học sinh và những nỗ lực liên tục nhằm cải tiến việc dạy học. Theo đó, để thực hiện việc dạy học sáng tạo trong lớp học, có một số yêu cầu đối với người giáo viên sáng tạo như sau [4], [10]:

– Trước tiên cần xác định được vai trò của giáo viên và việc dạy học là nhận ra các tiềm năng sáng tạo khác nhau của mỗi học sinh và cung cấp các điều kiện cụ thể để chúng được phát lộ ra bên ngoài, được nuôi dưỡng và phát triển thông qua tất cả các môn học và hoạt động học tập trong nhà trường.

– Người giáo viên sáng tạo cần thành thạo và có năng lực chuyên môn trong lĩnh vực cụ thể mà họ đảm nhiệm: trong toán học cần kiến thức về các khái niệm và nguyên lí toán học; trong Thủ công cần hiểu biết về đặc điểm và các loại hình hoạt động Thủ công, cách sử dụng các loại chất liệu và công cụ thực hành.v.v..

– Người giáo viên sáng tạo cần có niềm tin vào bản thân cũng như mong đợi và tin tưởng vào các khả năng và ý tưởng của học sinh, có sự tự tin và linh hoạt, có khả năng chấp nhận các rủi ro, có sự kết nối và tương tác qua lại giữa giáo viên và học sinh.

– giáo viên sáng tạo luôn sẵn sàng để thử nghiệm các ý tưởng dạy học mới, sẵn sàng đổi mới phương pháp dạy học, tự đánh giá việc dạy học, lắng nghe và hỏi học sinh phản hồi về bài học.

– giáo viên cần nắm được các phương pháp, kĩ thuật và kĩ năng giảng dạy sáng tạo để kích thích sự tò mò, trí tưởng tượng và tư duy đa chiều, làm tăng lòng tự trọng và tự tin của học sinh. Họ cũng phải xem xét đánh giá các loại câu hỏi phù hợp với các mục đích khác nhau và các giải pháp đáp ứng sự mong đợi trong lớp học.

– giáo viên cũng cần có khả năng xử trí linh hoạt, mềm dẻo và cân đối hài hòa giữa: a) sự cố vấn giúp đỡ của giáo viên và tính độc lập, chủ động, sáng tạo của học sinh; b) việc tổ chức dạy học đảm bảo yêu cầu của chương trình với tạo cơ hội cho học tập tự định hướng (trẻ tự quản lý việc học tập của bản thân theo khả năng và hứng thú riêng); c) quản lí làm việc của các nhóm với quan tâm tới từng cá nhân kịp thời, đúng lúc.

Điều kiện 4: Đánh giá bài dạy Thủ công

Sau khi giảng dạy, giáo viên sẽ muốn biết liệu bài học có thành công hay không, tức là bài học có diễn ra theo kế hoạch và giáo viên có đang dạy theo cách khuyến khích Tính sáng tạo của học sinh không? giáo viên có thể xem xét các yếu tố dưới đây khi đánh giá một bài học Thủ công với việc đáp ứng các yêu cầu của Dạy học theo hướng phát huy tính sáng tạo. Nếu câu trả lời là có cho ít nhất một trong các câu hỏi đặt ra, có nghĩa là giáo viên đang dạy Thủ công theo cách hỗ trợ sự sáng tạo của trẻ.

Trong bài học liệu có:

– Một bầu không khí thoải mái trong đó trẻ cảm thấy đủ an toàn để được mắc sai lầm và chấp nhận các rủi ro – hay là chúng luôn phải nhìn (thăm dò) giáo viên để yên tâm và để xem liệu chúng có “trả lời đúng” hay không?

– Cơ hội để vui chơi và thử nghiệm: giáo viên có cho phép trẻ được thử làm những điều mà chúng thích một cách thoải mái hay không?

– Cơ hội tạo sinh ý tưởng mới: các ý tưởng của trẻ có được nói ra, được chia sẻ và chào đón công khai (mà không bị đánh giá ngay lập tức) hay không?

– Mỗi hoạt động được diễn ra trong một bối cảnh thú vị – liệu trẻ cảm thấy bối cảnh việc học có động lực và giá trị hay không?

– Liệu trẻ có cơ hội được lựa chọn các ý tưởng và cách làm sản phẩm khác nhau không? (có thể gấp, cắt, xé dán, nối ghép, đan nan, cuộn giấy, tạo hình 2D/3D…)

– Liệu trẻ có cơ hội được lựa chọn các nguồn lực (đồ dùng, mẫu vật, nguyên vật liệu, chất liệu…) và phương pháp thực hiện hay không?

– Liệu trẻ có đang được trao đổi, nhận xét, đánh giá các sản phẩm và công việc của chúng và của các bạn trong lớp một cách xây dựng hay không?

– Liệu sự tiến bộ hay cố gắng, nỗ lực của mỗi học sinh trong suốt quá trình làm sản phẩm có được giáo viên nhận ra và khích lệ hay không? (bằng lời nói, hành động, ánh mắt…).

Tham khảo

  1. Lê Thị Nguyên (2019). Dạy học Thủ công ở tiểu học theo hướng phát huy tính sáng tạo của học sinh. Luận án tiến sĩ Khoa học Giáo dục. Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2. Hà Nội.
  2. D. Orr (1993), Schools for the 21st century, Resurgence, 160 (September/October).
  3. D. Hicks và C. Holden (1995), Visions of the future: why we need to teach for tomorrow, Stoke-on Trent: Trentham Books.
  4. Anthony Wilson (2009), Creativity in Primary Education 2nd, Learning Matters Ltd.
  5. Paula Polk Lillard (2014), Phương pháp Montessori ngày nay (Montessori today: A comprehensive approach to education from birth to adulthood), , NXB Khoa học Xã hội.
  6. Carol Garhart Mooney (2016), Các lí thuyết về trẻ em của Dewey, Montessori, Erikson, Piaget & Vygotsky NXB Lao động, Hà Nội.
  7. Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản JICA, Bộ GD&ĐT và Sở GD&ĐT Bắc Giang (2007), Sách bồi dưỡng giáo viên tiểu học.
  8. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2017), Chương trình Giáo dục phổ thông – Chương trình tổng thể (tháng 7/2017).
  9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình Giáo dục phổ thông – Môn Mĩ thuật (Dự thảo ngày 19 tháng 01 năm 2018).
  10. The National Advisory Committee on Creative and Cultural Education (NACCCE) (1999), All Our Futures: Creativity, Culture and Education.
  11. Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier (2014), Lí luận dạy học hiện đại NXB Đại học Sư phạm Hà Nội.
  12. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại – lí luận, biện pháp, kĩ thuật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.
  13. Bộ Giáo dục và Đào tạo và Dự án Việt Bỉ (2010), Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội
Bài viết liên quan