Bài viết phân tích 5 quan điểm và phương pháp dạy học theo tiếp cận năng lực người học với các nội dung, bao gồm: Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề; Dạy học phân hóa; Sử dụng thí nghiệm trong dạy học; Dạy học theo dự án và Dạy học theo WebQuest. Cụ thể:

1. Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề

Từ những năm 1960, giáo viên đã làm quen với thuật ngữ “dạy học nêu vấn đề”, nhưng cho đến nay vẫn chưa vận dụng thành thạo. Có người cho rằng thuật ngữ “nêu vấn đề” có thể gây hiểu lầm là giáo viên nêu ra vấn đề để học sinh giải quyết, do đó đề nghị thay “nêu vấn đề” bằng “gợi vấn đề”. Thực ra, trước hết cần tập dượt cho học sinh khả năng phát hiện vấn đề từ một tình huống trong học tập hoặc trong thực tiễn. Đây là một khả năng có ý nghĩa rất quan trọng đối với một người và không phải dễ dàng mà có được. Mặt khác, sự thành đạt trong cuộc đời không chỉ tùy thuộc vào năng lực phát hiện kịp thời những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn mà bước quan trọng tiếp theo là giải quyết hợp lí những vấn đề được đặt ra. Vì vậy, ngày nay người ta có xu hướng dùng thuật ngữ “dạy học giải quyết vấn đề” hoặc “dạy học đặt và giải quyết vấn đề” hoặc “dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề”.

Dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là phương pháp trong đó giáo viên tạo ra những tình huống có vấn đề, điều khiển học sinh phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo để giải quyết vấn đề bằng mọi biện pháp và phương tiện và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rèn luyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác. Đặc trưng cơ bản của dạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là “tình huống gợi vấn đề” vì “tư duy chỉ bắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề”.

Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi ra cho học sinh những khó khăn về lí luận hay thực hành mà họ thấy cần có khả năng vượt qua, nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải qua quá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điều chỉnh kiến thức sẵn có. Hay nói cách khác, tình huống có vấn đề là tình huống mà khi đó mâu thuẫn khách quan của bài toán nhận thức được học sinh chấp nhận như một vấn đề học tập mà họ cần và có thể giải quyết được, kết quả họ nắm được tri thức mới [2].

Trong quá trình tự học của học sinh đặc biệt là quá trình tự học kiến thức mới luôn xuất hiện những mâu thuẫn từ kiến thức lí thuyết cho đến thực nghiệm. Lúc này, học sinh phải tự tra cứu các thông tin liên quan qua các nguồn tài liệu tham khảo nhằm tự giải quyết mâu thuẫn xuất hiện trong quá trình tự học của bản thân. Phần mềm tra cứu kiến thức hoá học được thiết kế nhằm hỗ trợ cho học sinh có thể tra cứu thông tin từ kho dữ liệu kiến thức lí thuyết cơ bản, bài tập định lượng, video thí nghiệm ảo và các thông số thực nghiệm để từ đó hỗ trợ cho học sinh tự giải quyết các mâu thuẫn phát sinh trong quá trình tự học của bản thân.

2. Dạy học phân hóa

Dạy học phân hóa [3], [4] là dạy theo từng loại đối tượng, phù hợp với tâm sinh lí, khả năng, nhu cầu và hứng thú của người học nhằm phát triển tối đa tiềm năng riêng vốn có.

Đặc điểm của dạy học phân hóa là phát hiện và bù đắp lỗ hổng kiến thức, tạo động lực thúc đẩy học tập.

– Dạy học phân hóa được tổ chức dưới các hình thức như: phân hóa theo hứng thú, phân hóa theo sự nhận thức, phân hóa giờ học theo học lực, phân hóa giờ học theo động cơ, lợi ích học tập của người học.

Vì vậy, dạy học phân hóa phải tạo dựng môi trường từ lớp dưới để những học sinh có năng khiếu nào thì có cơ hội phát triển năng khiếu, sở trường đó.

– Đối với dạy học phân hóa, giáo viên cần hiểu rõ đối tượng giáo dục. Từ năng lực  hiểu đối tượng giáo dục, giáo viên cần có một năng lực  quan trọng là thiết kế công cụ dạy học. Đó là hệ thống câu hỏi, phiếu bài tập, bài kiểm tra,… phù hợp với từng đối tượng học sinh và thể hiện được sự phân hóa. Những công cụ ấy phải vừa đảm bảo được mục đích chung là giúp học sinh nắm vững những kiến thức cơ bản vừa phù hợp với nhận thức và học lực của từng đối tượng học sinh để góp phần phân hóa được đối tượng học sinh.

– Năng lực  thiết kế công cụ dạy học đòi hỏi giáo viên phải có kiến thức chuyên môn vững, hiểu sâu đối tượng học sinh. Đồng thời, giáo viên cần dành nhiều thời gian, công sức đầu tư trong việc lựa chọn và thiết kế công cụ dạy học. năng lực  thứ hai giáo viên cần có trong dạy học phân hóa là năng lực  sáng tạo. Sáng tạo trong cách dạy, sáng tạo trong lựa chọn phương pháp, công cụ, tổ chức hoạt động, sáng tạo trong cách đánh giá,… là một trong những năng lực  quan trọng của người giáo viên.

– Cùng một phương pháp dạy học, nội dung dạy học nhưng giáo viên cần có sự tổ chức hợp lí để đạt được mục đích phân hóa đối tượng học sinh mà không làm học sinh yếu kém phải tự ti, mặc cảm hay học sinh khá giỏi trở nên tự cao, tự đại. Đó là nghệ thuật dạy học của giáo viên.

Như vậy, dạy học phân hóa đòi hỏi giáo viên phải có tâm và phải phát hiện được năng khiếu của mọi học sinh. Để tổ chức dạy học phân hóa thành công, giáo viên cần tạo mối quan hệ dân chủ giữa thầy và trò, giữa trò và trò để giúp học sinh cởi mở, tự tin hơn.

Trong mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề, đặc biệt là giáo dục, con người là yếu tố quan trọng nhất quyết định kết quả đạt được. Vì vậy, để dạy học phân hóa cũng như dạy học tích hợp đạt hiệu quả cao, giáo viên cần phải nhạy bén, năng động, sáng tạo, có ý chí, nghị lực và không ngừng phấn đấu học tập để nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực  bản thân đáp ứng yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học mà ngành giáo dục đặt ra vì năng lực  của giáo viên phải phát triển tỉ lệ thuận với quá trình phát triển của xã hội, có như thế chất lượng của nền giáo dục nước ta mới ngày càng nâng cao.

Trong phạm vi đề tài, phần mềm tra cứu kiến thức hoá học đã được xây dựng với kho dữ liệu lí thuyết và bài tập ứng dụng từ những kiến thức, dạng toán cơ bản nhất cho đến nâng cao nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển năng lực TH cho nhiều đối tượng học sinh khác nhau cả về năng lực  cũng như động cơ học tập đối với môn Hoá học.

3. Sử dụng thí nghiệm trong dạy học

Thí nghiệm hóa học là một yếu tố đặc trưng cho hoạt động dạy học, là dạng

phương tiện trực quan chủ yếu, giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học hóa học ở trường phổ thông.

Qua thí nghiệm hóa học, những kiến thức lí thuyết về hóa học trở thành hiện thực. Thí nghiệm hóa học được sử dụng theo các cách và hình thức khác nhau để giúp học sinh thu thập và xử lí thông tin nhằm hình thành khái niệm, tính chất chung và tính chất của các hợp chất vô cơ, hữu cơ cụ thể.

Tùy vào đặc thù từng phương pháp, từng nội dung thí nghiệm cụ thể và điều kiện hiện của cơ sở giáo dục mà học sinh cũng như giáo viên có những hình thức thí nghiệm khác nhau [5]:

– Thí nghiệm biểu diễn (thí nghiệm của giáo viên): đối với hình thức này, giáo viên là người trực tiếp tiến hành các thao tác thí nghiệm cho học sinh quan sát, nhiệm vụ của học sinh lúc đó là quan sát, ghi nhận và xử lí thông tin thu thập được trong quá trình quan sát thí nghiệm để kết luận nội dung học tập.

– Thí nghiệm của học sinh: đối với hình thức này, học sinh là người trực tiếp tiến hành các thao tác thí nghiệm từ đó ghi nhận và xử lí thông tin thu thập được trong quá trình làm thí nghiệm để kết luận nội dung học tập. Với loại hình thức thí nghiệm này, ta có thể chia thành ba loại:

+ Thí nghiệm của học sinh trước khi học bài mới ở trên lớp: với loại thí nghiệm này nhằm kích thích tính tò mò, sáng tạo và tự lực của học sinh trong quá trình tự học kiến thức mới, gây hứng thú cho quá trình tự học của mình. Do điều kiện khách quan mà hình thức này gần như chỉ thực hiện được ở dạng không gian ảo thông qua các kho dữ liệu và phần mềm thí nghiệm hóa học ảo như: Youtube, Virtual Chemistry Lab, Chemlab, Maya,…

+ Thí nghiệm của học sinh trong khi học bài mới ở trên lớp: với loại thí nghiệm này nhằm giúp học sinh phát hiện vấn đề, nghiên cứu sâu hơn nội dung của bài học. Với loại hình thức này thường được ứng dụng trong các bài giảng lí thuyết mới.

+ Thí nghiệm của học sinh sau khi đã tìm hiểu xong nội dung học tập: với loại thí nghiệm này giúp học sinh một lần nữa củng cố kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng làm thí nghiệm, hình thức này thường được ứng dụng trong các bài thực hành, luyện tập, ôn tập và củng cố bài học lí thuyết.

4. Dạy học theo dự án

Phương pháp dạy học theo dự án (Project-Based Learning) là một trong những phương pháp dạy học tiêu chuẩn (Apel & Knoll), được coi là một phương tiện qua đó người học có thể phát triển khả năng tự lập và trách nhiệm, khả năng thực hành các hoạt động xã hội và dân chủ [6].

Phương pháp dạy học theo dự án là một trong các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại, đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu mà nền giáo dục tiên tiến cần có, phù hợp với Điều 28.2 Luật Giáo dục Việt Nam và có thể áp dụng được ở trường phổ thông nước ta trong điều kiện hiện nay.

Từ đầu thế kỉ XX, các nhà sư phạm Mỹ đã xây dựng cơ sở lí luận cho phương pháp dạy học mới này và coi đây là phương pháp dạy học quan trọng để thực hiện dạy học hướng vào người học nhằm khắc phục nhược điểm của dạy học truyền thống.

Dạy học theo dự án hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn nội dung việc học với thực tế cuộc sống, giúp phát triển cho học sinh các kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề, kĩ năng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá), kĩ năng giao tiếp, kĩ năng làm việc trong nhóm, kĩ năng ứng dụng CNTT,… cho phép học sinh làm việc một cách độc lập lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, có chiều sâu và gắn với thực tiễn để hình thành kiến thức và tham gia tích cực trong các hoạt động có sự phối hợp với các thành viên khác để tạo ra sản phẩm xác định.

Dạy học theo dự án ngoài mục tiêu truyền đạt kiến thức, còn kích thích hứng thú say mê tìm tòi nghiên cứu của người học, trau dồi văn hoá, khả năng lao động trí óc cho người học. Cách học dựa trên dự án không chỉ tập trung vào các chương trình giảng dạy mà còn khám phá các chương trình này, yêu cầu học sinh phải đặt câu hỏi, tìm kiếm những mối liên hệ và tìm ra giải pháp, thay đổi cách học từ việc “giáo viên nói” thành “học sinh thực hiện”. Như vậy, giáo viên đóng vai trò là người hướng dẫn hỗ trợ việc tự nghiên cứu của học sinh, học sinh có quyền tự chủ về kế hoạch hành động, phương pháp, phương tiện, các hướng sáng tạo sản phẩm, và đặc biệt biết ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ để hoàn thành mục tiêu giáo dục [6].

Từ những nhu cầu đó, phần mềm tra cứu kiến thức hoá học được xây dựng nhằm cho phép học sinh tự thiết kế các dự án học tập dựa vào kho dữ liệu lí thuyết, bài tập, và các thông số thực nghiệm nhằm đáp ứng yêu cầu về đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước thời kì đổi mới và hội nhập.

5. Phương pháp dạy học WebQuest

Với tốc độ phát triển rất nhanh của internet cũng như các phương tiện hỗ trợ cho quá trình tìm kiếm, lưu trữ và khai thác thông tin trên internet như hiện nay và trong tương lai thì việc định hướng học sinh tìm kiếm, nghiên cứu kiến thức, nội dung học tập của mình không còn xa lạ. Việc được tiếp xúc nhiều với CNTT trước, trong và sau lớp học còn mang đến cho các em những kĩ năng tin học cần thiết ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Đây sẽ là nền tảng và sự trợ giúp đắc lực giúp học sinh đa dạng và sáng tạo các buổi thuyết trình trước lớp, trước đáp đông, đồng thời tăng cường khả năng tìm kiếm thông tin cho bài học của mình [2].

WebQuest [7] là một dạng bài tập yêu cầu người học sử dụng World Wide Web để tìm hiểu và tổng hợp kiến thức của mình về một chủ đề cụ thể. WebQuest đòi hỏi người học tổng hợp các kiến thức mới bằng cách hoàn thành một “nhiệm vụ”, thường để giải quyết một vấn đề giả thuyết hoặc giải quyết một vấn đề tồn tại trong thế giới thực. Nhiệm vụ của một WebQuest thường được thể hiện dưới dạng yêu cầu người học giải quyết một hệ thống câu hỏi bằng cách sử dụng nguồn tài liệu giáo viên cung cấp dựa trên trang web (Internet links).

Một WebQuest được “chuyển tới” người học qua giấy hoặc qua trang web cá nhân. Trang web này như là một “căn cứ” nhằm phục vụ cho hoạt động của người học học bằng WebQuest. Nói trang web phục vụ cho người học này là một “căn cứ” là bởi những lí do sau:

– Chính trên trang web này, người dạy thể hiện một WebQuest với những phương tiện công nghệ hỗ trợ hiệu quả nhằm tạo được sự hứng thú và tâm trạng thoải mái, hấp dẫn cho người học trong quá trình học.

– Đây cũng là nơi người dạy đưa ra những nguồn tài liệu, giúp người học hoàn thành WebQuest.

– Người học và người dạy có thể trao đổi với nhau trước, trong và sau khi hoàn thành WebQuest nhằm tạo hiệu quả đến từng cá nhân trong quá trình học.

– WebQuest tạo điều kiện cho người học làm việc cá nhân hoặc nhóm và thúc đẩy phát triển tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá).

Giống như bất kì bài học nào được hoạch định cẩn thận, một WebQuest tốt giúp việc học của người học trở nên thú vị. Ngoài ra, như chính bản chất WebQuest, WebQuest là một công cụ hỗ trợ học tập mạnh mẽ [7].

– Xét về mặt nội dung

+ Giải quyết vấn đề trong thế giới thực: có thể tìm hiểu một cách chính xác và nhanh chóng về những vấn đề liên quan đến cuộc sống hằng ngày, kiến thức liên quan đến thực tiễn, giúp tìm ra những giải pháp thích hợp cho từng tình huống cụ thể.

+ Học tập liên môn: giúp cho người muốn tìm kiếm thông tin học hỏi thêm được nhiều kiến thức, không chỉ kiến thức cần tìm mà còn có nhiều kiến thức về các nội dung khác có liên quan hoặc không liên quan đến đề tài.

+ Hướng đến việc đa dạng hóa học tập và trình bày: WebQuest yêu cầu người học không chỉ biết và hiểu về kiến thức tìm được mà còn yêu cầu người học phải tìm cách trình bày sao cho những người khác cũng tiếp thu được bản chất vấn đề (luôn đánh giá cao sự sáng tạo của người học).

– Xét về phương pháp sử dụng

+ Đầu tiên, một WebQuest tốt sẽ ứng dụng sức mạnh của các trang Web đằng sau chủ đề đưa ra. Việc dạy và học trực tiếp qua những trang web sẽ không giới hạn người học ở vị trí nào. Người học có thể học được tại bất cứ nơi nào trên thế giới chỉ cần ở nơi đó họ có thể kết nối mạng.

+ giáo viên là người hướng dẫn cho người học khám phá năng lực bản thân hoặc chính họ tự khám phá năng lực của mình.

+ WebQuest là một cách để người học làm việc theo tốc độ riêng của họ, hoặc là cá nhân hoặc theo nhóm.

+ WebQuest cho phép người học khám phá các khu vực được lựa chọn sâu hơn, nhưng trong giới hạn mà người dạy đã lựa chọn (bằng Internet links). Điều này giúp Webquest vẫn đạt hiệu quả cao khi thực hiện trong một lớp học có mức độ khả năng học sinh khác nhau và việc kết hợp các học sinh trở nên dễ dàng hơn.

+ Làm việc với WebQuest giúp quá trình nghiên cứu, xử lí thông tin của cả người dạy và người học năng động, sáng tạo hơn bởi cách tiếp cận vấn đề khác nhau của mỗi cá nhân được tôn trọng.

+ Ngoài ra, WebQuest cũng có thể làm tăng sự thoải mái cho người học khi sử dụng internet cho các hoạt động học tập. Khi người học có thể tiếp cận được thông tin qua máy tính thì quá trình làm việc với WebQuest được thiết kế phù hợp giúp người học trở thành một nhà nghiên cứu sáng tạo hơn là “lướt” từ thông tin này đến thông tin khác như cách làm việc qua Internet thông thường.

– Xét về phạm vi sử dụng

+ WebQuest có thể được sử dụng ở tất cả các loại hình trường học. Điều kiện cơ bản là người học phải có kĩ năng đọc cơ bản và có thể tiếp thu, xử lí các thông tin dạng văn bản. Bên cạnh đó, người học cũng phải có những kiến thức cơ bản trong thao tác với máy tính và internet.

+ WebQuest có thể sử dụng cho mọi môn học. Ngoài ra, WebQuest rất thích hợp cho việc dạy liên môn.

Tuỳ theo mục đích sử dụng mà việc vận dụng phương pháp WebQuest có những chức năng và lợi ích khác nhau. Lúc đó học sinh có thể khai thác theo 4 hình thức:

(1) TH bài học, nội dung học mới trước giờ lên lớp.

(2) Tìm kiếm, nghiên cứu nội dung học tập trong giờ lên lớp.

(3) Củng cố nội dung học tập sau giờ lên lớp thông qua hệ thống bài tập và thí nghiệm ảo.

(4) Tự kiểm tra, đánh giá kiến thức của mình theo từng nội dung bài học.

Tham khảo thêm

  1. Phan Hoài Thanh (2020). Thiết kế và sử dụng phần mềm tra cứu kiến thức hóa học nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông. Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục. Trường Đại học Vinh. Nghệ An.
  2. Lê Văn Năm (2008), Các phương pháp dạy học hóa học hiện đại, Đại học Vinh.
  3. Đỗ Ngọc Thống (2017), Dạy học phân hóa trong chương trình giáo dục phổ thông mới
  4. Dương Thị Thùy (2018), “Vận dụng quan điểm dạy học phân hóa vào dạy học học phần “Địa lí tự nhiên Việt Nam 1″ ở trường Cao đẳng Sư phạm”, Tạp chí Giáo dục. Số đặc biệt kì 1 tháng 5/2018, tr. 218-221.
  5. Hải Bình (2015), Sử dụng thí nghiệm hiệu quả trong dạy Hóa học, https://giaoducthoidai.vn
  6. Phạm Hồng Bắc (2013), Vận dụng phương pháp dạy học theo dự án trong dạy học phần hóa phi kim chương trình hóa học trung học phổ thông, Luận án Tiến sĩ, trường Đhọc sinhP Hà Nội, tr. 2; 6.
  7. Lê Thị Hạnh (2019), Phương pháp dạy học WebQuest
Bài viết liên quan