Trong nhiều thập niên qua, vấn đề chuyển giá luôn thu hút sự quan tâm từ các nhà lãnh đạo cấp cao đến các nhà quản lý chuyên môn, luôn thu hút sự quan tâm của cộng đồng doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp, các công ty tư vấn, các tổ chức quốc tế và được các quốc gia trên thế giới xác định là một thách thức lớn trong quản lý thuế, quản lý nền kinh tế. Để đối phó với nguy cơ chuyển giá, chuyển lợi nhuận và làm xói mòn cơ sở thuế ở nước ta, một số giải pháp chống chuyển giá được cho là cần thiết có thể áp dụng 5 biện pháp chủ yếu như sau:

1. Hoàn thiện thể chế pháp luật về chống chuyển giá

Thứ nhất, Ngành thuế phải chủ động trình với nhà nước xây dựng và hoàn thiện pháp luật về kinh tế, đặc biệt việc hoàn thiện các luật thuế, luật quản lý thuế, hoàn thiện pháp luật về thu hút đầu tư nước ngoài để chuẩn bị sẵn sàng cho việc tiếp nhận đầu tư nước ngoài theo các FTA thế hệ mới, quản lý thuế đối với DN có vốn FDI, để đảm bảo cho phát triển kinh tế đất nước bền vững, là nhiệm vụ cấp thiết hiện nay; Việc xây dựng phải đảm bảo pháp luật kinh tế bắt kịp sự phát triển kinh tế, tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế phát triển nhưng cũng phải ngăn chặn hiệu quả các hành vi gây tiêu cực cho nền kinh tế; Bên cạnh đó, xây dựng hoàn chỉnh pháp luật về kinh tế, các luật thuế phải phù hợp với tình hình kinh tế trong nước, tình hình kinh tế thế giới, tiếp cận phù hợp với thông lệ quốc tế và xu thế của các nước trong khu vực và trên thế giới. Các luật thuế phải đảm bảo tính đồng bộ trong hệ thống pháp luật, khắc phục những tồn tại hạn chế trong công tác quản lý DN có vốn FDI hiện nay, tạo điều kiện thuận lợi cho người nộp thuế, cho công tác quản lý thu, đảm bảo tính công bằng về quyền lợi và nghĩa vụ thuế đối với các thành phần kinh tế, đảm bảo nguồn thu thuế và luật thuế cũng phải phù hợp với công cuộc cải cách hành chính của nhà nước nhằm cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Thứ hai, Ngành thuế phải chủ động trình với cơ quan nhà nước các cấp xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp lý về kiểm soát chuyển giá để có căn cứ tổ chức thực hiện:

Qua hơn 6 năm triển khai thực hiện thông tư 66/2010/TT-BTC đã phần nào thu được nhiều kết quả nhất định, song bên cạnh đó cũng còn nhiều bất cập về mặt quản lý thuế cần thiết phải khắc phục để công tác quản lý thuế có hiệu quả tốt hơn, cụ thể:

– Cần thiết phải nghiên cứu sửa đổi, bổ sung “Nguyên tắc giao dịch độc lập” thay cho nguyên tắc “xác định giá thị trường”; bổ sung nguyên tắc “Bản chất quyết định hình thức” cho việc xác định giá giao dịch liên kết.

Việc xác định giá giao dịch liên kết (GDLK) theo quy định hiện hành được quy định theo cách xác định trực tiếp hoặc gián tiếp. (Phương pháp trực tiếp: Xác định giá giao dịch liên kết dựa trên việc so sánh giá của giao dịch độc lập; phương pháp gián tiếp: sử dụng tỉ suất lợi nhuận của các đối tượng so sánh độc lập để điều chỉnh, xác định thu nhập chịu thuế đối với các giao dịch liên kết). Tuy nhiên, do cách sử dụng thuật ngữ “Giá thị trường” dễ dẫn tới việc hiểu sai, chỉ chú trọng đến “giá” và điều này sẽ khiến cho việc áp dụng xác định giá GDLK trở nên hạn chế; dễ gây hiểu lầm chỉ nhấn mạnh vào giá thực tế sử dụng trong giao dịch hơn là việc tính toán xác định thu nhập chịu thuế.

Việc phân tích xác định giá GDLK cần dựa trên nguyên tắc giao dịch độc lập (GDĐL), nguyên tắc này được nêu tại Điều 9 của các Hiệp định tránh đánh thuế hai lần giữa Việt Nam và các nước, nhưng chưa được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật về xác định giá GDLK. Tương tự, các nguyên tắc quản lý giá GDLK như nguyên tắc “bản chất quyết định hình thức”, nguyên tắc “tái nhận diện giao dịch”, nguyên tắc “tái phân bổ rủi ro” phù hợp với bản chất, thực tiễn sản xuất, kinh doanh của DN là những nguyên tắc cơ bản, thiết yếu, nền tảng cho công tác đấu tranh khi thực hiện thanh tra giá GDLK chưa được quy định. Áp dụng các nguyên tắc này, cơ quan thuế thực hiện rà soát lại các điều khoản, thỏa thuận tại Hợp đồng giữa các bên liên kết với thực tiễn hoạt động kinh doanh nhằm đấu tranh, tái phân bổ thu nhập chịu thuế của các DN phù hợp với các giá trị, lợi nhuận được tạo ra tại Việt Nam.

– Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung về quy định các bên liên kết:

Một số trường hợp quy định về các bên liên kết trong Thông tư 66/2010/TT-BTC quá rộng nhưng cũng có những trường hợp có rủi ro về giá chuyển nhượng nhưng lại chưa được quy định trong Thông tư. Như quy định về bên liên kết dựa trên mức ngưỡng kiểm soát về vốn ở mức 20% là tương đối thấp và bao quát nhiều trường hợp liên kết dẫn đến tăng số lượng DN thuộc diện quản lý, đồng thời giảm số lượng DN so sánh tiềm năng; Việc quy định bên liên kết dựa vào tỷ lệ giá trị hàng hóa dịch vụ mua vào, bán ra trong kỳ (vượt quá 50%) đôi khi dẫn đến bao quát cả các DN hoàn toàn độc lập (không cùng một tập đoàn); Quy định về các liên kết đối với các DN có ban lãnh đạo là các thành viên có mối quan hệ gia đình nếu DN không tự kê khai thì cơ quan thuế cũng chưa thể quản lý được; Một số GDLK nếu chiếu theo quy định của Thông tư không thuộc phạm vi điều chỉnh nhưng bản chất là các GDLK và có rủi ro tránh thuế (các khoản vay giáp lưng – là các khoản vay được tài trợ bởi nguồn tài chính của công ty mẹ hoặc công ty liên kết trong cùng tập đoàn nhưng thể hiện dưới hình thức khoản vay qua ngân hàng hoặc tổ chức tài chính là bên độc lập).

Việc quy định bên liên kết quá rộng đôi khi gây khó khăn cho cơ quan thuế và người nộp thuế trong việc tuân thủ chính sách quản lý giá chuyển nhượng bởi khi đó đối tượng so sánh độc lập bị thu hẹp dẫn tới khó tìm kiếm được đối tượng so sánh tương đồng.

– Sửa đổi, bổ sung quy định về kê khai thông tin giao dịch liên kết:

Thông tin hồ sơ chứng minh việc xác định giá giao dịch liên kết hiện nay chủ yếu là các thông tin nội tại DN ở Việt Nam. Các thông tin chung toàn diện về MNCs cũng như chuỗi giá trị, chuỗi phân phối và các kênh tạo lập giá trị và thu nhập cũng như số thuế đã nộp của các MNCs tại các quốc gia có thành lập pháp nhân là các thông tin cần thiết để đánh giá, nhận diện rủi ro về giá chuyển nhượng, đánh giá khả năng có tránh thuế tại từng quốc gia hay không. Xu hướng chung của các quốc gia trên thế giới sẽ yêu cầu các MNCs thực hiện cung cấp một cách toàn diện, tổng thể về toàn bộ chuỗi giá trị, chuỗi phân phối và các kênh tạo lập giá trị và thu nhập cũng như số thuế đã nộp của các MNCs tại các quốc gia có thành lập pháp nhân, cụ thể gồm 03 cấp độ: Hồ sơ toàn cầu; hồ sơ quốc gia và Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia nhằm nâng cao chất lượng quản lý rủi ro giá chuyển nhượng cho cơ quan thuế đồng thời giảm gánh nặng chi phí tuân thủ cho DN thông qua cơ chế phối hợp trao đổi thông tin giữa các nước.

Vì vậy, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý giá chuyển nhượng, hồ sơ xác định giá GDLK cần có cập nhật sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với xu hướng và thông lệ quản lý giá chuyển nhượng nói chung trên thế giới.

– Cần thiết đánh giá một cách toàn diện ảnh hưởng của chi phí lãi vay đến số thu thuế TNDN: Hiện nay chưa có quy định về khấu trừ lãi vay/vốn mỏng (vốn vay lớn hơn nhiều lần vốn chủ sở hữu), dẫn tới một số DN lợi dụng điểm này để chuyển lợi nhuận ra nước ngoài dưới hình thức thanh toán lãi vay trong khi số lợi nhuận/thu nhập trước thuế và lãi vay thu được tại Việt Nam rất lớn nhưng sau khi trừ chi phí lãi vay thì thu nhập chịu thuế âm và không nộp thuế phát sinh tại Việt Nam. Do đó, khi đánh giá ảnh hưởng của chi phí lãi vay thì phải đánh giá theo khu vực kinh tế (khu vực có vốn FDI, khu vực kinh tế tư nhân); đánh giá theo loại hình kinh tế (đầu tư nước ngoài; Công ty TNHH; Công ty cổ phần; DN liên doanh với nước ngoài); đánh giá theo lĩnh vực, ngành nghề (Tài chính – ngân hàng, sản xuất, thương mại, dịch vụ); đánh giá về quy mô vốn chủ sở hữu (dưới 50 tỷ đồng, từ 50 tỷ đồng đến 100 tỷ đồng, trên 100 tỷ đồng). Từ đó, xác định được các tỷ lệ vốn vay trên vốn chủ sở hữu được xem là tỷ lệ vốn mỏng và có những đề xuất phù hợp nhằm hạn chế ảnh hưởng của yếu tố chi phí lãi vay đến số thu thuế TNDN.

– Quy định rõ ràng hơn về “Hồ sơ giá chuyển nhượng” và có các quy định xử phạt vi phạm đối với hồ sơ kê khai thông tin GDLK, xử phạt vi phạm hành chính về thuế: Hiện nay, khi tiến hành tranh tra, kiểm tra, nếu kết quả điều chỉnh về các chi phí, giảm lỗ liên quan đến nhiều niên độ, số thuế truy thu lớn, dẫn tới nếu tính xử phạt theo quy định sẽ rất cao, gặp phản ứng từ DN, dễ dẫn tới khiếu nại, khiếu kiện,… hoặc nhiều trường hợp xử lý truy thu về thuế nhưng không có chế tài xử phạt hành vi trốn thuế, hành vi kê khai sai, do chưa có quy định cụ thể về xử phạt đối với các trường hợp điều chỉnh lại giá giao dịch thông qua kết quả thanh tra, kiểm tra thuế.

– Cần có giải pháp đơn giản hóa cho các GDLK ít có rủi ro thất thu thuế hoặc đã được áp dụng APA. Hiện nay, quy định tất cả các DN có phát sinh GDLK đều phải thực hiện kê khai và chuẩn bị hồ sơ xác định giá GDLK. Trên thực tế, việc xác định giá GDLK là nội dung phức tạp (đòi hỏi cán bộ kế toán, tài chính của doanh nghiệp phải có kiến thức chuyên sâu về giá chuyển nhượng) và tốn kém chi phí nhất là khâu tìm kiếm thông tin, dữ liệu so sánh. Thông thường, các DN thường phải thuê công ty tư vấn thực hiện với chi phí rất lớn. Việc này đôi khi gây tốn kém chi phí quá mức (nhân lực và tài chính) so với quy mô giao dịch hoặc quy mô hoạt động của DN dẫn đến chi phí tuân thủ lớn hơn hiệu quả thu được.

Kết quả Khảo sát 2017 về các biện pháp chống chuyển giá cho thấy những biện pháp thanh tra được đa số cán bộ công chức thuế đánh giá là có hiệu quả, song biện pháp được hơn 10% tổng số cán bộ thuế đánh giá rất hiệu quả trong chống chuyển giá lại là APA và phạt nặng hành vi chuyển giá.

Bảng thông kê kết quả khảo sát các biện pháp chống chuyển giáC

– Nghiên cứu sửa đổi, bổ sung về cơ chế bảo mật và trách nhiệm bảo mật, cơ sở dữ liệu (CSDL) của các đối tượng so sánh độc lập làm cơ sở xác định giá thị trường: Từ góc độ người nộp thuế, trong quá trình thực hiện gặp vướng mắc khó khăn rất lớn trong việc tìm kiếm thông tin dữ liệu so sánh do các thông tin được công bố công khai còn rất hạn chế. Quy mô thị trường chứng khoán Việt Nam còn nhỏ, số lượng DN niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán không nhiều nên thường phải sử dụng CSDL thương mại với chi phí rất lớn. Điều này đôi khi gây ra tình trạng chi phí tuân thủ vượt quá khả năng tài chính của DN, đặc biệt là các DN siêu nhỏ. Từ thực tế trong quá trình triển khai thanh tra giá chuyển nhượng tại các DN, cơ quan thuế sử dụng CSDL nội bộ ngành thuế (dữ liệu của các DN độc lập báo cáo theo chế độ quy định gửi cho cơ quan thuế) để làm căn cứ ấn định thu nhập chịu thuế của DN. Khi thực hiện thanh tra, đoàn thanh tra muốn công khai dữ liệu tên DN, kết quả kinh doanh để làm bằng chứng, căn cứ thuyết phục DN nhưng vướng phải quy định về trách nhiệm của cơ quan thuế thực hiện bảo mật thông tin của người nộp thuế theo quy định tại Luật Quản lý thuế.

Chính vì vậy, cần bổ sung và quy định rõ về cơ chế bảo mật và trách nhiệm bảo mật của cán bộ thanh tra thuế, quy định rõ các trường hợp cụ thể được phép sử dụng CSDL nội bộ ngành thuế để xử lý ấn định thu nhập chịu thuế; cần có cơ chế bổ sung nguồn kinh phí cho việc mua CSDL thương mại (mua từ các DN có chức năng kinh doanh mua bán dữ liệu), mua của các tổ chức kinh tế, các hiệp hội kinh tế quốc tế làm cơ sở cho việc ấn định giá, ấn định thuế.

– Sửa đổi, bổ sung về thời hạn thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng: Thanh tra giá chuyển nhượng thường liên quan đến các giao dịch quốc tế,

các giao dịch này phát sinh giữa các bên liên kết và thường được sắp đặt không theo khuôn khổ kinh doanh thông thường nhằm mục đích tránh thuế. Do vậy, công tác thanh tra vô cùng phức tạp, đòi hỏi phải thu thập lượng lớn các thông tin, dữ liệu, tài liệu thì mới có căn cứ để đấu tranh với DN. Tuy nhiên, thời hạn thanh tra tối đa theo quy định của Luật thanh tra hiện hành là 70 ngày nên hạn chế hiệu quả của công tác thanh tra giá chuyển nhượng, trong khi đó, theo thông lệ quốc tế, trung bình một cuộc thanh tra giá chuyển nhượng kéo dài khoảng 560 ngày. Do đó, thời hạn thanh tra hiện nay gây khó khăn rất lớn cho công tác thanh tra giá chuyển nhượng.

– Tiếp thu thông lệ quốc tế, bổ sung thêm các quy định về CSDL về người nộp thuế giúp cho cơ quan thuế có thêm thông tin về báo cáo tài chính của các công ty mẹ ở nước ngoài để có cơ sở phân tích, đánh giá rủi ro về việc chấp hành pháp luật thuế của công ty con tại Việt Nam.

Hiện nay, đối với hồ sơ, dữ liệu người nộp thuế phải cung cấp cho cơ quan thuế theo yêu cầu về quản lý giá chuyển nhượng chủ yếu tập trung vào các thông tin về người nộp thuế trong nước. Các thông tin về hoạt động sản xuất kinh doanh của MNCs trên toàn cầu, các thông tin quan trọng về chuỗi giá trị ngành, chuỗi giá trị của tập đoàn, thông tin về tình hình tài chính của từng thành thành viên và của toàn tập đoàn chưa được quy định trong chính sách hiện hành. Các quy định về giá chuyển nhượng hiện hành chủ yếu tập trung nhiều hơn vào các giao dịch liên quan đến hàng hóa, TSHH. Đối với các giao dịch có rủi ro cao về giá chuyển nhượng như các giao dịch về dịch vụ được cung cấp nội bộ giữa các bên liên kết, các giao dịch về TSVH thì chưa có quy định hướng dẫn cụ thể. Đây là các giao dịch được cơ quan thuế các nước và các tổ chức quốc tế đánh giá là tiềm ẩn nhiều nguy cơ bị các MNCs lợi dụng để chuyển giá, tránh thuế do tính chất vô hình, dễ dàng sắp đặt của các giao dịch này.

– Ngày 20/12/2013, Bộ Tài chính ban hành Thông tư số 201/2013/TT- BTC, về việc hướng dẫn việc áp dụng Thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) trong quản lý thuế [2]. Thông tư đã xác định phạm vi điều chỉnh; đối tượng áp dụng, thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA); trình tự thủ tục và nội dung của APA…Tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã và đang gặp phải nhiều rào cản cần tháo gỡ, cụ thể:

Không chỉ Việt Nam mà đối với tất cả các nước, thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách quốc gia, việc đàm phán không thể không tránh khỏi đụng chạm đến lợi ích về thuế giữa các nước do sự đối lập, xung đột giữa mục tiêu thuế và chính sách pháp luật của các nước khác nhau. Việt Nam hiện là nước đang tìm cách thu hút vốn FDI nên khó có thể có lợi thế trong đàm phán được những thỏa thuận mang lại lợi ích tối ưu.

Chi phí để thực hiện tìm hiểu, ký kết thỏa thuận rất lớn, mặt khác công tác quản lý, theo dõi APA đối với các doanh nghiệp cũng không nhỏ, nên đây cũng là một vấn đề trở ngại vì NSNN sẽ khó trang trải cho các chi phí liên quan đến các cuộc đàm phán, thỏa thuận của cơ quan thuế, ngược lại thu phí của người nộp thuế thì không khả thi do Việt Nam đang muốn có sự đồng thuận trong thỏa thuận về giá của các DN. Mặt khác hiện nay Việt Nam cũng đang khó khăn trong việc đào tạo đội ngũ chuyên gia, cán bộ giỏi có đủ năng lực trình độ trong đàm phán thuế quốc tế, trong quản lý giá chuyển nhượng.

Thông tin để xây dựng APA là cơ sở để xây dựng và đưa ra được mức giá thị trường cho những giao dịch trong tương lai, hay nói cách khác đây là thông tin liên quan đến chiến lược kinh doanh của DN, trong khi đó công tác quản lý thuế, cơ sở hạ tầng về công nghệ thông tin của Việt Nam hiện nay liệu có đáp ứng được chế độ bảo mật thông tin liên quan đến chiến lược kinh doanh của DN hay không cũng là cả một vấn đề để Bộ Tài chính cần phải quan tâm.

Nguyên tắc thị trường gắn với việc so sánh lợi nhuận báo cáo của các GDLK với các giao dịch tương tự do các bên độc lập thực hiện, trong nền kinh tế hiện đại, việc so sánh này không dễ gì thực hiện khi so sánh trực tiếp, vì các mô hình kinh doanh của các MNCs có tính độc đáo và tích hợp cao. Dữ liệu cụ thể của một người nộp thuế là vấn đề bí mật và việc sử dụng các dữ liệu bí mật làm dữ liệu so sánh nhằm xác định số truy thu đối với việc chuyển giá sẽ là một vấn đề khó thực hiện. người nộp thuế không thể biết bất kỳ thông tin nào về DN được đem ra so sánh và vì vậy không thể đưa ra các lý do tại sao trường hợp đó không tương thích với DN của họ. Vì vậy, việc sử dụng cái gọi là “cơ sở dữ liệu bí mật” trong việc đề xuất mức truy thu thuế trong chuyển giá không được chấp nhận trong thực tiễn quốc tế, tuy nhiên, “cơ sở dữ liệu bí mật” có thể được sử dụng trong việc đánh giá rủi ro cũng như trong các trường hợp người nộp thuế không tuân thủ hoặc từ chối công bố cách thức tính toán giá chuyển nhượng để kê khai thuế.

– Giải quyết triệt để vấn đề về chênh lệch thuế suất thuế TNDN giữa Việt Nam và các quốc gia trên thế giới, cần thiết phải phân tích, đánh giá mức độ ảnh hưởng của thuế suất thuế TNDN cho phù hợp, từng bước tiến hành giảm thuế suất, mở rộng diện chịu thuế nhằm khuyến khích sản xuất, tăng cường đầu tư phát triển, bảo đảm nguồn thu và đồng thời đảm bảo lộ trình và điều kiện triển khai BEPS gắn với kế hoạch cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2016-2020.

– Cải cách thuế xuất, nhập khẩu, thuế TTĐB, thuế TNCN sao cho phù hợp với tình hình thực tế trong nước và thế giới. Đối với mức thuế suất thuế xuất, nhập khẩu thì phải đảm bảo kích thích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu các mặt hàng không cần thiết, xây dựng danh mục các mặt hàng nhập khẩu, tránh trường hợp nhập các máy móc, thiết bị và công nghệ lỗi thời với chi phí cao; Thông qua việc thiết lập danh mục hàng hóa nhập khẩu sẽ hạn chế được các DN có vốn FDI thực hiện việc chuyển giá thông qua việc chuyển giao công nghệ lỗi thời với giá cao; Thông qua danh mục giá cả hàng hóa xuất, nhập khẩu cũng giúp cho cơ quan Hải quan chú ý đến các giao dịch với giá quá cao hay giá quá thấp so với thị trường để phát hiện các trường hợp chuyển giá tại khâu xuất khẩu.

– Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghị định số 20/2017/NĐ-CP quy định về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Do đó, trong thời gian tới cần tiếp tục hoàn thiện hành lang pháp lý về chống chuyển giá thông qua việc ban hành những văn bản cụ thể để hướng dẫn các nội dung của nghị định, trong đó có quy định cụ thể về các khoản chi từ NSNN cho các hoạt động thanh tra, kiểm tra và điều tra chống chuyển giá, hoàn thiện quy chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng có liên quan với cơ quan thuế trong hoạt động chống chuyển giá, đặc biệt là sự phối hợp của các cơ quan ngoại giao của Việt Nam ở nước ngoài. Trong lĩnh vực hiệp định thuế cần xem xét, sửa đổi và bổ sung các quy định để chống dàn xếp tránh thuế hai lần.

Thứ ba, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và ổn định giá trị VND:

Vấn đề mất giá của đồng tiền Việt Nam so với các loại ngoại tệ khác là một trong những mối quan tâm hàng đầu của các nhà đầu tư nước ngoài khi đầu tư vào Việt Nam, việc mất giá của đồng tiền Việt Nam so với các loại ngoại tệ khác sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp đến việc bảo toàn vốn đầu tư của các nhà đầu tư, vì vậy sự mất giá của đồng tiền sẽ là động cơ thúc đẩy các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hành vi chuyển giá nhằm bảo toàn vốn đầu tư của họ. Do đó, Bộ Tài chính cần phối hợp với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đưa ra các biện pháp tài chính nhằm kiểm soát và ổn định đồng tiền, ổn định nền kinh tế vĩ mô.

Khảo sát 2017 về điều kiện tăng khả năng quản lý chống chuyển giá, các ý kiến của cán bộ công chức thuế đều nêu bật các điều kiện quan trọng hàng đầu là tăng quyền hạn và trách nhiệm của cơ quan quản lý chống chuyển giá, Ban hành Luật chống chuyển giá, có cơ chế phối hợp giữa các cơ quan trong chống chuyển giá, tăng cường phối hợp quốc tế trong chống chuyển giá, tuyên truyền vận động toàn xã hội chống chuyển giá, quản lý chặt ưu đãi miễn giảm thuế,… cũng như ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển thị trường trong nước.

Bảng tổng hợp kết quả điều tra về điều kiện tăng khả năng quản lý chống chuyển giá

2. Hoàn thiện tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ chống chuyển giá

Trước mắt cũng như lâu dài, phải có đề án trình lên Bộ Tài chính, chỉ đạo ngành Thuế phải có kế hoạch củng cố, kiện toàn cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của ngành thuế để đáp ứng cho công tác quản lý thuế quốc tế, đặc biệt quan tâm đến yếu tố con người thực thi nhiệm vụ quản lý các DN có vốn FDI và thanh tra chống chuyển giá.

– Thứ nhất, về tổ chức bộ máy:

Hiện nay, Bộ Tài chính và Tổng cục Thuế đã thành lập 05 phòng thanh tra giá chuyển nhượng tại Tổng cục Thuế và tại 04 Cục Thuế lớn, nơi tập trung nhiều DN có vốn FDI, tiểm ẩn nhiều rủi ro có phát sinh vấn đề chuyển giá, các Cục Thuế còn lại, giao cho một phòng thanh tra hoặc kiểm tra làm đầu mối theo dõi chung đối với hoạt động quản lý thuế trong lĩnh vực này. Sự ra đời của bộ phận chuyên trách này nhằm chuyên môn hóa, chuyên nghiệp hóa công tác thanh tra giá chuyển nhượng nói riêng và công tác quản lý giá chuyển nhượng nói chung để đảm bảo tính chuyên sâu, chuyên nghiệp và hiệu quả. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện cho thấy cán bộ làm thanh tra không chỉ phải đấu tranh với DN mà còn đấu tranh với đội ngũ tư vấn, luật sư dày dặn kinh nghiệm, số lượng công văn, báo cáo phải thực hiện khá lớn, khối lượng công việc nhiều, số lượng DN vi phạm về chuyển giá ngày càng tăng, mức độ vi phạm lớn hơn. Chính vì vậy, về lâu dài Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế cần thiết nghiên cứu thành lập Cục thanh tra thuế hoạt động độc lập với công tác quản lý thuế đối với DN, có bộ phận tình báo thuế để tiếp cận các thông tin về giá tại các quốc gia và nội tại các DN có vốn FDI, bổ sung đủ lực lượng cán bộ có kinh nghiệm, tạm thời chưa thực hiện công tác luân chuyển vị trí làm việc đối với số cán bộ làm công tác chống chuyển giá sang làm việc tại bộ phận khác. Việc thanh tra giá chuyển nhượng được thực hiện ở cả cấp Bộ Tài chính và cơ quan thuế cấp vùng theo quy mô và độ phức tạp của vụ việc vi phạm.

– Thứ hai, về phát triển nguồn nhân lực:

Trình Bộ Tài chính, chỉ đạo ngành thuế phải có kế hoạch đào tạo và bổ sung đội ngũ cán bộ công chức thuế đủ về số lượng, có kỹ năng quản lý thuế quốc tế, quản lý giá chuyển nhượng và có năng lực về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ và tin học làm công tác quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá tại tất cả các cấp, tập trung đào tạo cho cán bộ trẻ, có chuyên môn tốt, có năng lực phát triển, cần tạo điều kiện thuận lợi để cán bộ ngành thuế được đi khảo sát, học tập kinh nghiệm thanh tra, kiểm tra giá chuyển nhượng ở các quốc gia khác đã có nhiều thành công trong chống thất thu thuế đối với hoạt động chuyển giá.

Trong tổng số 190 cán bộ công chức thuế trực tiếp liên quan đến hoạt động chống chuyển giá được khảo sát năm 2017, có 46,8% có thâm niên trên 10 năm và 62,6% có trình độ đại học cùng 29,5% có trình độ trên đại học, song có tới 41,6% chưa được tham gia lớp bồi dưỡng nào về nghiệp vụ chống chuyển giá và cũng chỉ có 28,9% được bồi dưỡng nghiệp vụ này dưới 3 lần. Thêm vào đó, trình độ ngoại ngữ của đội ngũ cán bộ thuế làm công tác chống chuyển giá cũng hạn chế khi qua khảo sát 2017 chỉ có 14,7% sử dụng được ngoại ngữ trong công việc, còn hoặc là biết sơ sơ (18,9%) hoặc là biết những không thành thạo (42,6%), thậm chí không biết ngoại ngữ nào (2,1%).

Theo kế hoạch hoạt động năm 2012 của cấu phần Đào tạo thuế Quốc tế – Dự án “Cải cách quản lý hành chính thuế – Giai đoạn 3”, Nhóm công tác Dự án của Tổng cục Thuế đã tiến hành khảo sát về thực trạng năng lực thực thi thuế Quốc tế của các công chức thuế và nhu cầu đào tạo thuế Quốc tế của các Cục Thuế tại 23 Tỉnh thành phố lớn của cả nước, nơi mà hiện nay đang thu hút nhiều DN có vốn FDI, có nhiều phát sinh liên quan đến thuế Quốc tế.

Đoàn khảo sát đã kết luận:

– Về thực trạng Đội ngũ cán bộ thực thi thuế quốc tế của ngành thuế có tuổi đời tương đối cao, có kinh nghiệm, có trình độ học vấn, yếu về tiếng Anh, phần lớn vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu công việc do gặp khó khăn về việc tiếp cận với các chính sách, tài liệu liên quan đến thuế quốc tế, chưa được đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ xác định giá chuyển nhượng, Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần, phương pháp điều tra các giao dịch liên kết, các môn học về giao dịch, tài chính quốc tế; yếu về năng lực tin học [3].

– Về nhu cầu đào tạo: Các cán bộ thực thi thuế quốc tế chưa được trang bị đầy đủ các kiến thức, kỹ năng quản lý thuế quốc tế do ngành Thuế chưa xây dựng được chương trình đào tạo về thuế quốc tế. Với nhu cầu ngày càng tăng thêm về nguồn nhân lực thì công tác đào tạo về thuế quốc tế cần được đầu tư rất nhiều để bù đắp lỗ hổng thiếu hụt cả về lượng và về chất [3].

Từ kết quả khảo sát nêu trên cho thấy ngành thuế Việt Nam cần có một kế hoạch phát triển nguồn nhân lực thuế quốc tế bài bản, có sự định hướng rõ ràng để từng bước xây dựng và phát triển đội ngũ công chức thuế quốc tế tinh nhuệ đáp ứng với nhu cầu về công chức thuế quốc tế trong 3, 5, 10 năm tới. Bên cạnh đó, việc xây dựng một chương trình đào tạo chuẩn, toàn diện cho công chức thuế về cả chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng, văn bản pháp quy, tiếng Anh và một số kỹ năng mềm khác cũng như xây dựng lộ trình đào tạo chuẩn cho công chức thuế Quốc tế là rất cần thiết để có thể trang bị cho công chức thực thi thuế Quốc tế kiến thức cần thiết để thực hiện tốt nhiệm vụ.

Ngoài ra, để xây dựng và phát triển nguồn nhân lực có chất lượng tốt, đáp ứng được nhu cầu của công việc chống chuyển giá, thì Tổng cục Thuế cũng phải thường xuyên rà soát, lựa chọn để cử công chức đủ điều kiện tham dự các kỳ thi nâng ngạch chuyên viên chính, chuyên viên cao cấp, thực hiện kịp thời việc xếp ngạch cho cán bộ công chức. Bên cạnh đó, thực hiện tốt công tác giáo dục tư tưởng, đạo đức, văn hóa ứng xử cho công chức, viên chức, tăng cường công tác đào tạo, đào tạo lại cán bộ trong ngành, trong đó tập trung vào các nội dung như: Lý luận chính trị, quản lý hành chính nhà nước, bồi dưỡng cơ bản và chuyên sâu về chuyên môn, kỹ năng nghiệp vụ về quản lý thuế, ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý thuế, các quy chế phối hợp trong thực thi công vụ…

Để tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ công chức thuế làm công tác chống chuyển giá, kết quả khảo sát 2017 khẳng định rất cần tăng số lượng cán bộ chuyên trách chống chuyển giá (47,4%), đồng thời tập trung đào tạo cán bộ chuyên trách (42,6%), nhất là về chuyên môn nghiệp vụ, ngoại ngữ, tin học và nâng cao phẩm chất đạo đức nghề nghiệp. Bên cạnh đó, cán bộ Thuế cũng đề nghị tăng chế độ đãi ngộ cho cán bộ chuyên trách chống chuyển giá (35,3%) và đảm bảo trang thiết bị phục vụ công tác (43,2%), cụ thể:

Bảng tổng hợp kết quả về việc cần tăng cường năng lực cho đội ngũ cán bộ công chức thuế

3. Xây dựng và quản lý sử dụng cơ sở dữ liệu về chống chuyển giá

Ngành Thuế cần thiết phải xây dựng được hệ thống thông tin CSDL về người nộp thuế, đặc biệt CSDL về giá, hoạt động chuyển giá, về các DN có vốn FDI, CSDL các DN không phát sinh quan hệ liên kết (doanh nghiệp độc lập) để phục vụ công tác thanh tra giá chuyển nhượng đối với các ngành nghề có rủi ro cao về chuyển giá, tránh thuế TNDN như ngành: May mặc, da giày, sản xuất đồ uống, sản xuất thức ăn thủy sản, sản xuất linh kiện điện tử… tích hợp đầy đủ các thông tin về đăng ký thuế như: Tên người nộp thuế, mã số thuế, địa chỉ, ngành nghề sản xuất kinh doanh, vốn, lao động, trạng thái hoạt động,…; thông tin về báo cáo kết quả sản xuất kinh doanh, bảng cân đối kế toán; thông tin về tình hình thanh tra, kiểm tra; tình hình thực hiện kê khai, nộp thuế của người nộp thuế.

Trình Bộ Tài chính, chỉ đạo Tổng cục Thuế cần thiết sắp xếp có nguồn kinh phí để mua các thông tin tình báo của các quốc gia khác, mua dữ liệu từ các hiệp hội, tổ chức bên ngoài như mua quyền khai thác CSDL thương mại của tổ chức quốc tế Beaure van Dijk, Thomson Reuter.

Quan tâm đến việc phát triển công nghệ thông tin của ngành thuế, đảm bảo triển khai hạ tầng kỹ thuật và đầu tư phát triển ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ cải cách hiện đại hoá của ngành thuế cũng như cắt giảm thủ tục hành chính theo yêu cầu của Chính phủ; đảm bảo hệ thống đường truyền ổn định, hệ thống bảo mật thông tin, cũng như việc hỗ trợ kịp thời các tiến bộ kỹ thuật về công nghệ thông tin phục vụ cho công tác quản lý thuế, đáp ứng yêu cầu công tác thanh tra giá chuyển nhượng.

4. Xây dựng cơ chế phối hợp trong đấu tranh chống chuyển giá

Khảo sát 2017 cho thấy, có 64,2% số cán bộ công chức thuế cho rằng chống chuyển giá là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngành Thuế và Hải quan nói riêng, ngành Tài chính nói chung. Tuy nhiên, chống chuyển giá chỉ thực sự có hiệu quả khi và chỉ khi có sự phối hợp đồng bộ của các Bộ ngành từ Trung ương đến địa phương.

Trong thời gian tới, để kiểm soát được hoạt động chuyển giá thì ngoài sự nỗ lực của ngành thuế thì cũng rất cần sự vào cuộc của các Bộ, Ban, Ngành để phối hợp trong đấu tranh chống chuyển giá, cụ thể:

Trình Bộ Tài chính: Chỉ đạo thực hiện quản lý nhà nước về giá giao dịch liên kết theo quy định; Chủ trì, phối hợp với các Bộ, Ban, Ngành trong quản lý nhà nước về giá giao dịch liên kết; Thực hiện thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định về giá giao dịch liên kết.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư: Xây dựng CSDL về hệ thống phân ngành kinh tế; quản lý đăng ký ngành nghề kinh doanh của DN; xây dựng cơ sở dữ liệu về cơ cấu vốn đầu tư, chứng nhận đầu tư, chứng nhận đăng ký kinh doanh; Phối hợp cung cấp, trao đổi các thông tin liên quan đối với các dự án đầu tư.

Bộ Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm: Xây dựng CSDL liên quan đến các hợp đồng chuyển giao công nghệ; hợp đồng chuyển giao quyền sở hữu công nghiệp và hồ sơ đăng ký quyền sở hữu trí tuệ và phối hợp cung cấp thông tin cho cơ quan thuế.

Bộ Công thương: Xây dựng CSDL về hoạt động chuyển nhượng, nhượng quyền thương mại, CSDL về giá giao dịch của các hàng hóa trên các sở giao dịch trong nước và phối hợp cung cấp thông tin cho cơ quan thuế.

Ngân hàng Nhà nước: Phối hợp với Bộ Tài chính thực hiện quản lý về giá giao dịch liên kết; Trong phạm vi quản lý, cung cấp thông tin, số liệu về các khoản vay và trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp tại Việt Nam theo yêu cầu của Cơ quan thuế.

Uỷ ban Nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Chỉ đạo Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính và các Sở, Ban, ngành liên quan thực hiện quy định về quản lý giá giao dịch liên kết; Phối hợp với Cục Thuế.

5. Chủ động, tích cực và tăng cường hợp tác quốc tế trong chống chuyển giá

Bộ Tài chính cần chỉ đạo Tổng cục Thuế tích cực triển khai các hoạt động hợp tác về quản lý thuế với cơ quan thuế các nước trên thế giới và tổ chức quốc tế, nhằm rút kinh nghiệm thiết thực cho tiến trình cải cách, hiện đại hoá hệ thống thuế, đồng thời khẳng định vị thế của Thuế Việt Nam trên trường quốc tế; triển khai đàm phán ký kết Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các quốc gia trên thế giới; tích cực phối hợp với một số tổ chức quốc tế lớn như OECD trong việc nâng cao năng lực quản lý giá chuyển nhượng cho cán bộ thuế Việt Nam theo chương trình phối hợp giữa OECD/EU-Multrap và Ngân hàng thế giới (WB); Tiến hành trao đổi thông tin với cơ quan thuế các nước phát triển, chú trọng trao đổi hợp tác về quản lý thuế và giá với các quốc gia có DN có vốn FDI đang hoạt động tại Việt Nam; Bên cạnh đó, tích cực triển khai các hoạt động hợp tác với các quốc gia và định chế tài chính quốc tế như: Mỹ, Pháp, Hàn Quốc, OECD, Malaysia, Lào, SGATAR, Mông Cổ, Đài Loan, Jica, MDTF, IFC…để đưa chương trình hành động quốc tế về chống xói mòn cơ sở thuế vào chương trình hành động của ngành thuế. Triển khai thực hiện có hiệu quả Dự án chống xói mòn nguồn thu và chuyển lợi nhuận (BEPS), bám sát 15 chương trình hành động nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi làm xói mòn nguồn thu và chống chuyển lợi nhuận ra nước ngoài mà OECD đã đưa ra, trong đó, lưu ý chương trình hành động số 4 (giảm thiểu xói mòn nguồn thu đối với lãi vay và các khoản thanh toán tài chính khác), chương trình hành động số 8-10 (đảm bảo xác định giá chuyển nhượng phù hợp với giá trị được tạo lập), chương trình hành động số 13 (hồ sơ giá chuyển nhượng và báo cáo lợi nhuận liên quốc gia).

Tham khảo

  1. Lê Quang Hùng (2018). Chuyển giá và chống chuyển giá trong quản lý thuế đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài ở Việt Nam. Luận án tiến sĩ kinh tế. Học viện Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Hà Nội.
  2. Bộ Tài chính (2013), Thông tư 201/2013/TT-BTC, ngày 20/12/2013, “Hướng dẫn việc áp dụng thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) trong quản lý thuế”.
  3. Tổng cục Thuế (2012), “Báo cáo khảo sát năng lực thực thi thuế Quốc tế của công chức thuế và nhu cầu đào tạo thuế quốc tế”.
Bài viết liên quan