1. Tín dụng, lãi suất

Thông qua tín dụng, nguồn vốn được dịch chuyển từ nơi thừa đến nơi thiếu, làm cho xã hội bớt lãng phí ở những nơi thừa vốn, giảm khó khăn tại nơi thiếu vốn, giúp nâng cao hiệu quả việc sử dụng vốn, góp phần làm cho tốc độ luân chuyển hàng hoá và tiền vốn tăng lên, tạo sự phát triển đồng đều giữa các ngành trong nền kinh tế. Việc điều hoà nguồn vốn thông qua khung lãi suất quy định giúp cho chính sách tiền tệ của Chính phủ được thực hiện, điều hoà lưu thông tiền tệ góp phần ổn định tiền tệ, và sự phát triển lành mạnh của thị trường tài chính tiền tệ.

Hơn nữa, thông qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có những chính sách ưu tiên hỗ trợ phát triển các vùng, miền hay các ngành then chốt, trọng điểm nhờ vào việc đưa ra các ưu đãi tín dụng… do vậy đã kích thích thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư vào các vùng, ngành trọng điểm trong diện ưu tiên của Chính phủ, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo sự phát triển cân đối trong cả nước.

Tín dụng là một nguồn tài trợ để bù đắp sự thiếu hụt vốn của các doanh nghiệp. Không phải doanh nghiệp nào cũng có đầy đủ vốn tự có để phát triển sản xuất kinh doanh, đa số các doanh nghiệp đều bị thiếu vốn và phải thực hiện huy động vốn từ các nguồn ngoài doanh nghiệp, vì vậy, tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn cho các doanh nghiệp.

Tín dụng giúp các doanh nghiệp giải quyết những khó khăn trong việc tìm kiếm các nguồn vốn bên ngoài để mở rộng đầu tư, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường nội địa cũng như trên thị trường thế giới. Nhận thức được điều đó, chính phủ và các tổ chức tài chính tín dụng đang ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc hỗ trợ các doanh nghiệp thông qua một số giải pháp tín dụng: cho vay, cho thuê tài chính, bảo lãnh tín dụng…

– Thứ nhất là cho vay

Để xác định khả năng sinh lợi của vốn cho vay cần phải so sánh lợi tức với vốn cho vay để từ đó hình thành nên lãi suất tín dụng. Lãi suất tín dụng được hiểu là tỷ lệ so sánh giữa số lợi tức thu được với số vốn cho vay phát ra trong một thời kỳ nhất định. Nói cách khác, lãi suất tín dụng chính là sự cụ thể hoá của lợi tức tín dụng, là cái giá của quyền được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định mà người sử dụng phải trả cho người sở hữu nó. Với doanh nghiệp đi vay, cho vay với các mức lãi suất và thời gian cho vay khác nhau sẽ tạo ra nhiều hình thức cho vay khác nhau và có tác động lớn đến chi phí tài chính của doanh nghiệp, từ đó, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hàng hóa.

Các hình thức lãi suất càng phong phú thì càng tạo độ linh hoạt và hiệu quả trong quan hệ tín dụng. Lãi suất chính là chất xúc tác hình thành nên quan hệ tín dụng nên việc phân biệt các loại lãi suất tín dụng ngân hàng sẽ cho thấy hiệu quả trong phát triển tín dụng nói riêng và phát triển nền kinh tế nói chung. Thông thường hệ thống lãi suất trên thị trường có các loại lãi suất sau:

– Lãi suất cơ bản: là lãi suất do ngân hàng Nhà nước/Trung ương công bố làm cơ sở cho các ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác ấn định lãi suất kinh doanh.

– Lãi suất sàn và lãi suất trần: là lãi suất thấp nhất và lãi suất cao nhất trong một khung lãi suất nào đó mà ngân hàng Trung ương ấn định cho các ngân hàng thương mại hoặc do các ngân hàng thương mại quy định trong hệ thống nhằm thống nhất các hoạt động tín dụng trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

– Lãi suất tái chiết khấu: là lãi suất cho vay ngắn hạn mà ngân hàng Trung ương dành cho các ngân hàng thương mại, trong trường hợp ngân hàng Trung ương cấp vốn thông qua nghiệp vụ tái chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất gốc của các ngân hàng thương mại, để từ đó ngân hàng thương mại ấn định lãi suất chiết khấu và lãi suất cho vay khác trong khung lãi suất được phép.

– Lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực: Lãi suất danh nghĩa là lãi suất mà người cho vay được hưởng không tính đến sự biến động của giá trị tiền tệ, được xác định cho một kỳ hạn gửi hoặc vay, thể hiện trên quy ước giấy tờ được thoả thuận trước. Lãi suất thực là lãi suất sau khi đã loại trừ sự biến động của giá trị tiền tệ, như lạm phát hoặc sự lên giá tiền tệ. Lãi suất thực = lãi suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát dự đoán.

Lãi suất danh nghĩa luôn lớn hơn 0 nhưng lãi suất thực thì không phải lúc nào cũng dương, đặc biệt, khi xảy ra lạm phát với tỷ lệ lạm phát lớn hơn lãi suất danh nghĩa thì lúc đó lãi suất thực sẽ âm, điều này sẽ gây bất lợi cho người cho vay và người đi vay lại có lợi hơn. Như vậy, lãi suất thực có ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư, tái phân phối thu nhập giữa người cho vay và người đi vay, vì vậy, ngân hàng chỉ thực sự thúc đẩy tích luỹ khi đưa ra được chính sách lãi suất thực dương.

Các hình thức cho vay với các thời hạn khác nhau có thể tạo điều kiện cho doanh nghiệp lựa chọn sao cho phù hợp với mục đích sử dụng vốn. Việc doanh nghiệp sử dụng vốn vay hiệu quả sẽ thể hiện qua việc hiệu quả sản xuất tăng, khả năng cạnh tranh của sản phẩm tăng. Ngân hàng có thể cho doanh nghiệp phục vụ sản xuất theo các hình thức cho vay sau:

i). Các khoản cho vay ngắn hạn để chế biến sản xuất hàng xuất khẩu theo các hợp đồng thương mại đã được ký kết để doanh nghiệp thực hiện hợp đồng;

ii). Cho vay trong quá trình thanh toán để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành liên tục mà không bị gián đoạn do thiếu hụt vốn trong thời gian chờ tiền thanh toán của đối tác nước ngoài;

iii). Cho vay trung, dài hạn để doanh nghiệp mua sắm máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất, cải tiến công nghệ, ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng năng lực cạnh tranh trên thị trường thế giới.

– Thứ hai là cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trang bị máy móc, thiết bị phục vụ hoạt động gia công, sản xuất hàng xuất khẩu. Bên cho thuê tài chính cam kết mua máy móc, thiết bị, bất động sản khác theo yêu cầu của bên thuê và giữ quyền sở hữu với tài sản cho thuê, bên thuê chỉ có quyền sử dụng đối với các loại tài sản đó. Bên thuê là các doanh nghiệp sẽ sử dụng tài sản cho thuê và thanh toán tiền thuê trong thời gian thuê theo hợp đồng đã được ký kết bởi hai bên. Bên thuê không được hủy bỏ hợp đồng trước thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê phải chuyển quyền sử dụng, mua lại hoặc tiếp tục thuê lại tài sản đó theo điều kiện được thỏa thuận.

Các khoản vay trung và dài hạn phù hợp cho các dự án đầu tư vào công nghệ, máy móc thiết bị nhưng có ảnh hưởng lớn đến gánh nặng trả lãi của doanh nghiệp nên doanh nghiệp có thể lựa chọn hình thức thuê tài chính, theo đó, làm giảm chi phí tài chính cho doanh nghiệp. Hơn nữa, do đặc điểm hoạt động cho thuê tài chính không đòi hỏi người thuê phải có tài sản thế chấp, do đó, đây là một giải pháp khá thích hợp đối với các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp bị hạn chế về nguồn vốn và khó thực hiện vay vốn từ bên ngoài.

– Thứ ba là bảo lãnh tín dụng

Đây là hoạt động gián tiếp cấp tín dụng cho các doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp non trẻ, quy mô nhỏ. Bảo lãnh tín dụng sẽ giúp nâng cao khả năng tiếp cận vốn và sử dụng các dịch vụ ngân hàng của các doanh nghiệp may mặc, nhằm khai tác tối đa lợi thế của nền kinh tế để thực hiện sản xuất sản phẩm, nâng cao chất lượng của hàng hóa.

2. Tác động của tín dụng, lãi suất đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm

Nhờ có nguồn vốn tín dụng của ngân hàng, các doanh nghiệp có điều kiện bổ sung vốn thiếu hụt tạm thời hay mở rộng nguồn vốn đảm bảo được quá trình sản xuất bình thường và còn có thể mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, áp dụng kỹ thuật công nghệ mới tăng tính cạnh tranh. Tín dụng đã giúp các doanh nghiệp đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ, tạo điều kiện để duy trì mối liên hệ hữu cơ giữa sản xuất, lưu thông hàng hoá và tiêu dùng xã hội.

Hoạt động tín dụng góp phần giúp doanh nghiệp nâng cao được năng lực cạnh tranh, điều đó được thể hiện thông qua việc doanh nghiệp phải cẩn trọng trong việc phân tích và lựa chọn các phương án, dự án đầu tư vì phải hoàn trả vốn vay và lãi đúng kỳ hạn. Những dự án không khả thi, kém hiệu quả hay hiệu quả thấp đều sẽ bị gạt bỏ. Các tổ chức tín dụng chỉ cho vay đối với những doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có lãi, có uy tín, có dự án khả thi, hạn chế hoặc không cho vay đối với những trường hợp hiệu quả thấp buộc các doanh nghiệp vay vốn cần tự cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh, chấp nhận cạnh tranh và phải nâng cao được sức cạnh tranh sản phẩm của mình thì mới có thể tồn tại và phát triển được. Vì vậy, đối với các quốc gia đang phát triển, như Việt Nam, để nâng cao được năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như nâng cao được khả năng cạnh tranh của hàng may mặc xuất khẩu thì việc xây dựng và thực thi chính sách tín dụng hợp lý, cùng với việc phát triển mạnh mẽ hệ thống các tổ chức tín dụng, các tổ chức hỗ trợ xuất khẩu, các quỹ bảo lãnh tín dụng là hết sức quan trọng.

Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, sản phẩm hàng hóa của các doanh nghiệp trong nước chịu sự cạnh tranh rất lớn với sản phẩm hàng hóa của nước ngoài cả ở thị trường trong nước và thị trường quốc tế. Điều đó đòi hỏi sản phẩm hàng hóa phải có chất lượng cao, mẫu mã đa dạng và thường xuyên thay đổi phù hợp với xu hướng phát triển trên thế giới, giá cả hàng hóa hợp lý thì mới có thể cạnh tranh được. Nhờ có hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có thể có được nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất, nâng cao năng suất lao động và tăng được khả năng cạnh tranh của hàng hóa cũng như doanh nghiệp.

Tham khảo thêm

Hà Thị Liên (2019). Sử dụng công cụ tài chính vĩ mô nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng may mặc xuất khẩu Việt Nam. Luận án tiến sĩ kinh tế. Học viện Tài chính, Hà Nội.

Bài viết liên quan