Tiếp tục chuỗi bài về “Năng lực”, “Năng lực tự học“, Hoa tiêu tri thức đề cập tiếp đến nội dung “Đánh giá năng lực người học” theo yêu cầu của bạn đọc. Trong bài viết này sẽ đề cập đến nguyên tắc đánh giá năng lực, mục đích, phương pháp và công cụ đánh giá năng lực người học.

1. Nguyên tắc đánh giá năng lực

Trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực, đánh giá kết quả học tập của người học không tập trung vào kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học mà phải đánh giá khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng vào trong thực tiễn. Vì vậy, khi đánh giá cần chú ý các nguyên tắc sau [2]: đảm bảo độ tin cậy, đảm bảo tính giá trị, đảm bảo tính linh hoạt, đảm bảo tính công bằng, đảm bảo tính hệ thống, đảm bảo tính toàn diện, phát triển người học, đánh giá trong bối cảnh thực tiễn.

2. Mục đích đánh giá năng lực

Đánh giá năng lực bao gồm các mục đích cơ bản [3]:

– Đánh giá, giám sát sự tiến bộ của người học theo chuẩn đầu ra của chương trình.

– Xác định vùng phát triển gần của người học để thiết lập kế hoạch can thiệp trong quá trình giảng dạy trên lớp nhằm hỗ trợ người học có thể chuyển sang vùng phát triển gần trên cơ sở đường phát triển năng lực.

– Báo cáo thành tích, sự tiến bộ về khả năng của người học, xây dựng hồ sơ học tập về các kỹ năng của người học trong suốt khóa học.

– Cung cấp thông tin cho việc đánh giá, xem xét lại sự phù hợp của chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo và chất lượng của chương trình dạy học được sử dụng.

3. Phương pháp và công cụ đánh giá năng lực

Theo tác giả Nguyễn Thị Lan Phương [3], các thông tin về năng lực người học cần được thu thập trong suốt thời gian học tập, được thực hiện thông qua nhiều phương pháp khác nhau. Các phương pháp đánh giá năng lực được phân chia thành 11 nhóm phương pháp chủ yếu:

(1) đặt câu hỏi;

(2) đối thoại trên lớp;

(3) phản hồi thường xuyên;

(4) phản ánh;

(5) đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá;

(6) sử dụng thang năng lực;

(7) sử dụng bảng kiểm danh sách các hành vi;

(8) đánh giá tình huống;

(9) phương pháp trắc nghiệm;

(10) hồ sơ học tập;

(11) đánh giá thực.

Đối với HS, phương pháp và công cụ thường được sử dụng trong đánh giá có thể là [4]:

Cách (1) Đánh giá đồng đẳng và tự đánh giá

Đánh giá đồng đẳng là quá trình đánh giá giữa các người học với nhau, nhằm cung cấp các thông tin phản hồi để cùng học hỏi và hỗ trợ lẫn nhau. Thông qua việc làm này sẽ tạo cơ hội để nói chuyện, thảo luận, giải thích và thách thức lẫn nhau.

Tự đánh giá là quá trình người học tự trả lời cho các câu hỏi: tôi đã học những gì? Tôi đang biết những gì? Làm thế nào để rút ngắn khoảng cách giữa những điều tôi biết và cần biết? Bước tiếp theo cần đạt là gì? Tự đánh giá có thể giúp người học hiểu rõ cách mà các em muốn học. Nó sẽ cung cấp thông tin phản hồi có ý nghĩa cho giáo viên về nhu cầu học tập của bản thân.

Cách (2) Sử dụng thang năng lực

Thang đánh giá mức độ phát triển năng lực thường là thang định danh, quy định thứ tự định tính về các đặc điểm hành vi cần quan sát đánh giá ở người học. Người đánh giá thiết lập danh sách bao gồm các hành vi cụ thể ở từng thành tố của năng lực để quan sát người học hoặc người học sử dụng để tự khẳng định xem mỗi hành vi đã thực hiện như thế nào.

Cách (3) Đánh giá tình huống

Đánh giá tình huống là đánh giá hiệu quả thực hiện của người học trong một tình huống liên quan đến kinh nghiệm làm việc thực tế. Đánh giá tình huống hiện nay được sử dụng trong đánh giá môn học, đặc biệt được sử dụng rộng rãi trong đánh giá các khóa học tiếp cận năng lực và đào tạo nghề. Đánh giá tình huống được thể hiện qua một số hình thức sau: đánh giá trong tình huống mô phỏng (đóng vai, trò chơi, thực hành thí nghiệm, …), đánh giá trong tình huống thật.

Cách (4) Phương pháp trắc nghiệm

Trắc nghiệm là một phương pháp mà người học thể hiện sự am hiểu kiến thức, kỹ năng bằng cách viết những mô tả hoặc suy nghĩ của mình thông qua một hệ thống câu hỏi được giao. Những hình thức trắc nghiệm được dùng cho đánh giá năng lực là nhiều lựa chọn, trả lời ngắn, bài luận.

Cách (5) Hồ sơ học tập

Hồ sơ là tập hợp các bài tập, bài kiểm tra, bài thực hành, sản phẩm công việc, video, ảnh,… đã hoàn thành một cách tốt nhất. Chúng có thể sử dụng như là bằng chứng về quá trình học tập và sự tiến bộ, hồ sơ học tập giúp phát triển kỹ năng tổ chức, kỹ năng thể hiện, trình bày,… của người học.

Tham khảo thêm

  1. Phan Hoài Thanh (2020). Thiết kế và sử dụng phần mềm tra cứu kiến thức hóa học nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh trung học phổ thông. Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục. Trường Đại học Vinh. Nghệ An.
  2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình giáo dục phổ thông, Hà Nội.
  3. Nguyễn Thị Lan Phương (2016), Chương trình tiếp cận năng lực và đánh giá năng lực người học, Nxb Giáo dục Việt Nam.
  4. Thái Hoài Minh (2018), Phát triển năng lực ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy học cho sinh viên sư phạm hóa học của các trường đại học, Luận án Tiến sĩ, trường ĐHSP Hà Nội.
Bài viết liên quan