1. Những yếu tố khách quan

1.1. Tác động sự phát triển nhanh chóng của khoa học công nghệ và những biến đổi kinh tế, xã hội của đất nước

Cuộc cách mạng khoa học – công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và truyền thông tiếp tục phát triển mạnh mẽ, thúc đẩy sự phát triển nhảy vọt trên nhiều lĩnh vực, tạo ra cả thời cơ và thách thức đối với mọi quốc gia. Có thể nói trong lịch sử phát triển của thế giới chưa có một thời kỳ nào mà nhân loại đứng trước những cơ hội phát triển to lớn do sự tác động mạnh mẽ của những tiến bộ khoa học – công nghệ hiện đại. Điều này cũng đang đặt ra vấn đề con người học tập suốt đời đã trở thành một xu thế, học hành của mọi người diễn ra ở mọi nơi, mọi lúc. Xây dựng một xã hội học tập suốt đời cần dựa trên cơ sở bốn yêu cầu cơ bản hay còn gọi là bốn trụ cột mà trong báo cáo trình UNESCO của Uỷ ban quốc tế về giáo dục thế kỷ XXI đề cập đến, đó là: học để biết, học để làm, học để cùng chung sống và học để làm người.

Sự phát triển kinh tế xã hội đã tạo những điều kiện thuận lợi cho toàn xã hội nói chung và từng gia đình nói riêng đầu tư cho GD&ĐT. Hàng năm, Nhà nước đều tăng kinh phí cho GD&ĐT, các hình thức giáo dục ngoài công lập ngày một phát triển. Mức sống của người dân được nâng lên, từng gia đình có điều kiện chăm lo nhiều hơn cho con em mình. Các cơ sở giáo dục ở tất cả các cấp học, bậc học nói chung và các trường THCS nói riêng đều được đầu tư xây dựng về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật dạy học, và các điều kiện khác để góp phần nâng cao chất lượng học tập, sinh hoạt của giáo viên và học sinh. Đây là những điều kiện thuận lợi rất cơ bản cho người hiệu trưởng THCS trong lãnh đạo, quản lý trường học, trong bồi dưỡng, nâng cao NLQL.

Tuy nhiên, mặt trái của cơ chế thị trường, sự phân hoá giàu nghèo, sự thay đổi chênh lệch mức sống trong các tầng lớp dân cư ngày càng gia tăng. Sự suy thoái về đạo đức, lối sống, chủ nghĩa thực dụng hưởng thụ, chạy theo đồng tiền và tiện nghi vật chất, ít quan tâm đến lợi ích tập thể, phủ nhận những giá trị nhân bản trong truyền thống văn hoá đạo đức của dân tộc Việt Nam, cùng với những tệ nạn xã hội là những yếu tố tác động tiêu cực tới GD&ĐT, tới đội ngũ những người hiệu trưởng. Cơ chế thị trường đã len lỏi vào trường học nói chung và trường THCS nói riêng, đã làm biến dạng mối quan hệ giữa thầy và trò, giữa giáo viên với cha mẹ học sinh, giữa giáo viên với giáo viên và giữa giáo viên với hiệu trưởng.

Những tiêu cực ở các nhà trường như việc “chạy lớp, chạy trường” của một số gia đình phụ huynh học sinh đã làm cho người hiệu trưởng phải chịu những áp lực lớn từ nhiều phía. Nếu hiệu trưởng không giữ vững được phẩm chất, đạo đức của nhà giáo, dễ bị sa ngã hoặc nể nang làm sai những chủ trương, quy định, thậm chí không giữ được đúng định hướng xây dựng nhà trường, làm sai lệch vị trí, vai trò, sứ mạng đã được xác định của nhà trường. Những tiêu cực cũng đặt ra cho công tác quản lý những thách thức đối với năng lực của người hiệu trưởng trong lãnh đạo, QLNT. Đòi hỏi người hiệu trưởng phải có kiến thức, NLQL và phương pháp, tác phong quản lý một cách linh hoạt, mềm dẻo, đúng nguyên tắc, đảm bảo trong hoạt động quản lý vẫn giữ được những định hướng của nhà trường, không làm sai chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước nhưng đồng thời cũng xây dựng được mối quan hệ tốt với cha mẹ học sinh, với cấp trên, không bị cuốn theo những áp lực, đồng thời đảm bảo sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ nhà trường.

Thực tế cho thấy, đâu đó có hiện tượng “chạy chức, chạy quyền” trong tuyển dụng giáo viên và bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo của các nhà trường, tuy không phải là hiện tượng phổ biến nhưng cũng đã dẫn đến tình trạng có một số hiệu trưởng yếu kém về phẩm chất và NLQL. Những vấn đề trên một mặt đòi hỏi phải đổi mới công tác cán bộ, đảm bảo bổ nhiệm hiệu trưởng trường THCS đủ phẩm chất và năng lực, mặt khác phải thanh lọc, làm trong sạch đội ngũ hiệu trưởng các trường THCS, đồng thời tăng cường bồi dưỡng, đảm bảo cho hiệu trưởng trường THCS đáp ứng được chuẩn hiệu trưởng, thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý trường học trong điều kiện mới.

1.2. Tác động từ chủ trương đổi mới quản lý giáo dục và xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục của Đảng và Nhà nước

Sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế đã đặt ra những yêu cầu mới đối với GD&ĐT. Đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT đã trở thành nhiệm vụ đặc biệt quan trọng và cấp thiết của toàn Đảng, toàn dân. Chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện GD&ĐT là một quan điểm nhất quán, đã được thể hiện một cách hệ thống trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng.

Để đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đòi hỏi phải xây dựng một nền giáo dục mở, thực học, dạy tốt và học tốt, có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý gắn với xây dựng một xã hội học tập, đảm bảo cho GD&ĐT ngày một hội nhập sâu hơn vào hệ thống giáo dục quốc tế và khu vực, đồng thời giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc của dân tộc. Mục tiêu của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục của đất nước, phấn đấu đến năm 2030 giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Những vấn đề đó đã đặt ra cho giáo dục nói chung và giáo dục THCS nói riêng những yêu cầu mới. Đòi hỏi giáo dục THCS phải có những đổi mới mạnh mẽ về nội dung, phương pháp dạy và học. Các nhà trường THCS phải thực hiện tốt nhiệm vụ mục tiêu đã được đặt ra góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho đất nước.

Đổi mới dạy học trong các nhà trường THCS đòi hỏi người hiệu trưởng phải nhanh chóng bắt kịp những đòi hỏi, yêu cầu mới về phẩm chất, năng lực. Một mặt họ phải có những phẩm chất của người thầy, của người lãnh đạo QLNT, mặt khác phải có kiến thức những tư duy mới trong lãnh đạo, quản lý, điều hành các hoạt động của nhà trường. Hiệu trưởng trường THCS phải là những nhà quản lý tiên tiến trong một thế giới, với một nền giáo dục đang đổi mới mạnh mẽ.

Trong đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT của đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng thực hiện các giải pháp phát triển đội ngũ CBQLGD. Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD, khẳng định: “Mục tiêu là xây dựng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD được chuẩn hoá, đảm bảo chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng những đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước” [2, tr.2].

Nghị quyết lần thứ 8 Ban chấp hành TW Đảng khoá XI, ngày 04/11/2013 về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế” đã xác định những quan điểm, chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT nước nhà. Một trong những giải pháp phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQLGD một cách đồng bộ, được đào tạo, bồi dưỡng về phẩm chất và nghiệp vụ quản lý đã được xác định trong Nghị quyết và đồng thời đặt ra những yêu cầu mới đối với đội ngũ CBQLGD.

Trong đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, Đảng ta đã xác định một hệ thống các giải pháp thiết thực, cụ thể trong đó có chú trọng đến phát triển đội ngũ CBQLGD. Trên thực tiễn, việc xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ CBQLGD gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế còn gặp nhiều khó khăn. Một mặt, do những yêu cầu cao hơn trong thời kỳ mới, mặt khác, trình độ NLQL của CBQL các cấp trong đó có hiệu trưởng trường THCS chưa đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ mới của GD&ĐT.

 Do vậy, xu thế đổi mới GD&ĐT và những chủ trương, biện pháp kiện toàn phát triển đội ngũ CBQLGD của Đảng và Nhà nước một mặt tạo cơ hội cho đội ngũ hiệu trưởng các trường THCS phát triển mặt khác đòi hỏi họ phải nỗ lực phấn đấu, rèn luyện trong bồi dưỡng và tự bồi dưỡng, tự làm giàu tri thức, phát triển tư duy của người lãnh đạo, quản lý trường học, không ngừng hoàn thiện, nâng cao NLQL đáp ứng yêu cầu QLNT trong thời kỳ mới.

1.3. Tác động từ chủ trương, kế hoạch, quy trình bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Quán triệt Chỉ thị 40-CT/TW, ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQLGD, các cơ quan quản lý GD&ĐT các cấp đã triển khai xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ CBQLGD. Trong giải pháp phát triển đội ngũ CBQLGD, vấn đề đào tạo, bồi dưỡng đã được đặt ra như một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ra Quyết định số 382/ QĐ-BGDĐT ngày 20/01/2012 ban hành 06 chương trình bồi dưỡng CBQLGD gồm: Chương trình bồi dưỡng CBQL trường mầm non; Chương trình bồi dưỡng CBQL trường phổ thông; Chương trình bồi dưỡng CBQL trung tâm giáo dục thường xuyên; Chương trình bồi dưỡng CBQL trường trung cấp chuyên nghiệp; Chương trình bồi dưỡng CBQL khoa, phòng ở trường đại học, cao đẳng; Chương trình bồi dưỡng CBQL sở/phòng GD&ĐT; Thông tư 27/2015/TT-BGDĐT ngày 30/10/2015 Ban hành Chương trình bồi dưỡng thường xuyên CBQL trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học.

Những chủ trương, chính sách và chương trình bồi dưỡng kịp thời, bổ ích là những nhân tố tích cực để xây dựng, phát triển đội ngũ hiệu trưởng trường THCS, đảm bảo cho họ có phẩm chất, tri thức và những kỹ năng quản lý cần thiết trong thời kỳ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và hội nhập quốc tế. Chất lượng, hiệu quả bồi dưỡng NLQL cho hiệu trưởng còn phụ thuộc vào quy trình tổ chức bồi dưỡng. Nếu xây dựng được một quy trình bồi dưỡng hợp lý, khoa học, sát đối tượng thì sẽ tạo điều kiện cho việc thực hiện tốt chương trình, nội dung bồi dưỡng. Có quy trình bồi dưỡng hợp lý thì việc quản lý bồi dưỡng còn khắc phục được sự chồng chéo, tránh được lãng phí các nguồn lực bồi dưỡng.

Tác động của xây dựng, quản lý nhà trường hiện đại

Quản lý nhà trường vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật với nhiều vấn đề lớn, khó khăn và phức tạp.Trong bối cảnh hiện nay, QLNT đang đứng trước những yêu cầu mới, trước sự biến đổi nhanh chóng về kinh tế, xã hội, về GD&ĐT và về những biến đổi ở ngay mỗi nhà trường.

Loài người bước sang thế kỷ 21 với sự xuất hiện của kinh tế tri thức đã làm thay đổi cơ bản quan niệm về vị trí, vai trò của nhà trường. Nhà trường đã chuyển từ mô hình nhà trường truyền thống lấy người dạy làm trung tâm (Teacher – centered school) sang mô hình các nhà trường hiện đại như nhà trường lấy người học làm trung tâm (Student – centerd school); nhà trường hiệu quả (Efectiveness School); nhà trường mở (Open school); nhà trường tự quản (Self – managing school)…

Nhà trường hiện đại đã có sự thay đổi trong mục tiêu đào tạo. Con người do nhà trường đào tạo phải năng động, tích cực, tự tin, thực tế và cạnh tranh hơn. Mục tiêu giáo dục của nhà trường trong bối cảnh toàn cầu hoá phải bảo đảm đào tạo những con người thực học, có năng lực, phẩm chất đáp ứng được yêu cầu thực tiễn, chứ không phải con người đạt được bằng cấp hư danh. Nhà trường hiện đại với vai trò đặt cơ sở ban đầu cho việc chiếm lĩnh tri thức, phát triển năng lực nhận thức và hành động để người học thích ứng và tự phát triển trong cuộc sống chứ không phải trang bị đủ mọi mặt để người học có thể dùng suốt đời, chỉ học một lần là đủ làm việc cho cả cuộc đời.

Công nghệ thông tin đã làm thay đổi cơ bản phương pháp dạy và học ở nhà trường, việc ứng dụng công nghệ thông tin cho phép người dạy và người học tiếp cận với các nền giáo dục tiên tiến trên toàn cầu, đòi hỏi người dạy và người học phải nâng cao năng lực sử dụng công nghệ thông tin để tiếp nhận và nâng cao tri thức bằng con đường tự học, nó đòi hỏi dạy học ở các nhà trường phải hướng đến hình thành năng lực tự học cho người học. Học tập suốt đời trở thành nhiệm vụ cơ bản của mỗi người, của giáo dục ở mọi nhà trường trong đó có trường THCS.

Mặt khác, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và ứng dụng những phương pháp, hình thức dạy học tiên tiến khác đòi hỏi người hiệu trưởng cần phải có NLQL nhà trường. Người hiệu trưởng phải có những tri thức, kỹ năng và phương pháp quản lý đáp ứng được yêu cầu mới trong một môi trường liên tục thay đổi, đó là sự thay đổi trong quan niệm giáo dục, sứ mạng, chức năng của nhà trường; thay đổi mục đích, mục tiêu đào tạo; về phương pháp đào tạo; về tư duy giáo dục…

Trong nhà trường hiện đại, cũng đã có sự thay đổi về ngôn ngữ được sử dụng, giảng dạy trong nhà trường. Tiếng Anh trở thành một ngôn ngữ quốc tế được sử dụng phổ biến, rộng rãi trong nhà trường. Ngoài ra, do nhu cầu và quy định một số nhà trường còn giảng dạy bằng tiếng nước ngoài khác như tiếng Nga, tiếng Hoa, tiếng Pháp, tiếng Đức… Chính sự thay đổi ngôn ngữ được sử dụng trong nhà trường đã đặt ra cho hiệu trưởng trường THCS những yêu cầu mới về năng lực. Do vậy, tại Tiêu chuẩn 2, Tiêu chí 10 trong Quy định Chuẩn hiệu trưởng trường THCS, trường THPT và trường phổ thông có nhiều cấp học của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ghi rõ hiệu trưởng phải: “sử dụng được một ngoại ngữ” [3, tr.6].

2. Những yếu tố chủ quan

2.1. Tác động từ yếu tố phẩm chất, nhân cách của hiệu trưởng

Hiệu trưởng vừa là nhà quản lý, lãnh đạo nhà trường, vừa là nhà giáo dục có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng ở nhà trường. Chính vì vậy, phẩm chất, nhân cách của hiệu trưởng có ý nghĩa quan trọng, tác động to lớn đến quá trình hoạt động, quản lý của họ. Người hiệu trưởng để thực hiện tốt vị trí, vai trò của mình với tư cách là người đứng đầu nhà trường, trước hết phải có phẩm chất chính trị vững vàng, có đạo đức, tác phong mẫu mực của người thầy. Người hiệu trưởng phải là con chim đầu đàn trong tập thể sư phạm, dẫn dắt, thuyết phục cán bộ, giáo viên của nhà trường trong thực hiện nhiệm vụ GD&ĐT. Hiệu trưởng phải là tấm gương trong việc thực thi pháp luật, chấp hành kỷ luật, trung thực và liêm khiết trong cuộc sống, phải được tập thể sư phạm, các đồng nghiệp quý trọng và học sinh tin yêu.

Những phẩm chất, nhân cách tốt đẹp của người hiệu trưởng có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động quản lý của họ. Người hiệu trưởng chỉ có thể quản lý tốt hoạt động GD&ĐT của nhà trường và đội ngũ giáo viên, nếu như trong họ quy tụ được những phẩm chất tốt đẹp, luôn là tấm gương sáng cho mọi người noi theo. Mọi cử chỉ, hành vi hoạt động của hiệu trưởng chính là mệnh lệnh không lời, là sự thuyết phục tốt nhất trong lãnh đạo, quản lý. Chính nhờ có những phẩm chất cao đẹp mà người hiệu trưởng không cần thể hiện những “quyền uy sư phạm” mà công tác quản lý của họ vẫn đi vào nền nếp và đạt hiệu quả cao. Do vậy, phẩm chất của hiệu trưởng không chỉ tạo nên uy tín cá nhân của họ mà còn tạo nên “danh tiếng” cho nhà trường, là động lực giúp hiệu trưởng hoàn thành nhiệm vụ của mình trong lãnh đạo, QLNT.

2.2. Tác động từ trình độ chuyên môn,nghiệp vụ của hiệu trưởng

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm của hiệu trưởng có tác động rất lớn đến quản lý, lãnh đạo trường học của họ. Trong hoạt động quản lý của mình, hiệu trưởng phải có tri thức về chuyên môn, nắm vững những vấn đề cơ bản của lý luận dạy học và giáo dục hiện đại. Hiệu trưởng phải biết sử dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương pháp và hình thức dạy học hiện đại. Hiện nay, đa số hiệu trưởng đều trưởng thành từ giáo viên, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ đào tạo và năng lực của hiệu trưởng cũng rất khác nhau. Do vậy, trước hết người hiệu trưởng phải giỏi về môn học mà họ đã và đang đảm nhiệm, đồng thời hiệu trưởng phải có kỹ năng phân tích, đánh giá trình độ chuyên môn và năng lực sư phạm của từng giáo viên trong nhà trường, biết khích lệ để mỗi giáo viên phát huy những thế mạnh và khắc phục những điểm yếu của họ. Về điều này, các tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải và Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Một người hiệu trưởng giỏi không phải là người có tham vọng giỏi hơn mọi giáo viên (thực tế với nội dung giáo dục hiện nay ở mọi loại hình nhà trường không có hiệu trưởng nào làm được điều này) mà phải là người biết dùng các thầy giáo giỏi” [4, tr.277].

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của hiệu trưởng là một trong những yếu tố quyết định đến chất lượng quản lý của hiệu trưởng, đồng thời là cơ sở tạo thành uy tín trong nghề nghiệp quản lý, đồng thời trình độ chuyên môn nghiệp vụ của hiệu trưởng có ảnh hưởng đến đội ngũ giáo viên, đến các tổ chức, đến phụ huynh học sinh và học sinh của nhà trường. Người hiệu trưởng có trình độ chuyên môn nghiệp vụ giỏi chính là những điều kiện tốt cho họ trong thực hiện nhiệm vụ lãnh đạo, QLNT.

2.3. Tác động từ trình độ và năng lực quản lý của hiệu trưởng

Lao động quản lý của hiệu trưởng trường THCS là một loại hình lao động xã hội đặc biệt, đó là lao động quản lý nguồn nhân lực, quản lý con người. Lao động quản lý của hiệu trưởng trường THCS bị chi phối bởi những quy luật của mối quan hệ liên nhân cách; quy luật xã hội và những quy luật đặc thù khác trong lĩnh vực giáo dục đào tạo. Do vậy, lao động quản lý của hiệu trưởng vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật, đòi hỏi sự sáng tạo cao. Để đạt hiệu quả cao trong quản lý, hiệu trưởng các trường THCS phải có những kiến thức rộng về chính trị xã hội, đặc biệt về khoa học giáo dục, khoa học quản lý.

Mặt khác, quản lý của hiệu trưởng là quản lý con người nên người hiệu trưởng phải có những kiến thức về các môn khoa học xã hội và nhân văn, đặc biệt là xã hội học và tâm lý học. Họ phải có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ giáo viên, của học sinh trong nhà trường, hiệu trưởng phải có khả năng thuyết phục, sáng tạo trong xử lý các mối quan hệ, nắm bắt thông tin và biết hợp tác với mọi người để hướng tới mục tiêu. Để đạt được những điều đó, hiệu trưởng phải có tầm nhìn nhạy cảm, có tư duy biện chứng, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, luôn luôn đổi mới, đạt tới tính nghệ thuật trong quản lý.

Để xây dựng nhà trường trong xu thế đổi mới giáo dục và hội nhập quốc tế, người hiệu trưởng phải thường xuyên cập nhật những vấn đề mới về khoa học quản lý, QLGD, sử dụng một cách thành thạo và linh hoạt phương pháp quản lý hiện đại, biết huy động được đội ngũ giáo viên, học sinh và cộng đồng xã hội tham gia xây dựng nhà trường. Hiệu trưởng phải huy động được các nguồn lực và phát huy được tính hiệu quả của nó để xây dựng cơ sở vật chất, xây dựng vị thế và “thương hiệu” của nhà trường. Trong hoạt động QLGD, QLNT, hiệu trưởng nhà trường phải phát huy dân chủ, khêu gợi được nhân tâm của đội ngũ giáo viên dưới quyền, khuyến khích tài năng, sức lực và trí tuệ của tập thể để xây dựng khối đoàn kết, nhất trí trong nhà trường, hướng mọi người vào mục tiêu chung thực hiện sứ mệnh của nhà trường.

Để quản lý một nhà trường hiện đại trong một thế giới biến động và đổi mới không ngừng, đòi hỏi hiệu trưởng phải có tư duy chiến lược tốt, có ý thức và luôn đổi mới, tránh kiểu quản lý cứng nhắc, kinh nghiệm chủ nghĩa. QLGD, quản lý trường học đã trở thành một nghề. Người hiệu trưởng phải biết gắn bó với nghề, phải không ngừng vươn lên đáp ứng những đòi hỏi khắt khe của nghề. Như vậy, trình độ và NLQL của hiệu trưởng là một yếu tố quyết định đến chất lượng quản lý, là điều kiện tiên quyết cho việc thực hiện nhiệm vụ của người hiệu trưởng.

Những yêu cầu mới về trình độ chuyên môn nghiệp vụ và NLQL của hiệu trưởng đòi hỏi người hiệu trưởng một mặt phải không ngừng vươn lên, tự hoàn thiện phẩm chất, nhân cách và phát triển năng lực của bản thân, mặt khác, các cơ quan quản lý nhà nước về GD&ĐT cũng phải quan tâm đào tạo, bồi dưỡng và xây dựng chế độ chính sách đãi ngộ và sử dụng đối với đội ngũ hiệu trưởng trường THCS. Trình độ và NLQL của hiệu trưởng là cơ sở quan trọng để các cơ quan quản lý xây dựng kế hoạch bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng. Những vấn đề mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức bồi dưỡng phụ thuộc vào trình độ và NLQL hiện có của hiệu trưởng nhất là nội dung bồi dưỡng. Bồi dưỡng phải phù hợp với trình độ, NLQL của hiệu trưởng, đồng thời đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng của họ.

Tham khảo

  1. Đinh Thị Lan Duyên (2017). Quản lý bồi dưỡng năng lực quản lý theo chuẩn cho hiệu trưởng các trường THCS thành phố Hà Nội. Luận án tiến sĩ Quản lý giáo dục. Học viện chính trị – Bộ Quốc phòng.
  2. Ban Bí thư Trung ương Đảng (2004), Về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục, Chỉ thị số 40-CT/TW, ngày 16/6/2004, Hà Nội.
  3. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Dự án SREM – Dự án Hỗ trợ đổi mới quản lý giáo dục, Bộ tài liệu tăng cường NLQL trường học, Hà Nội.
  4. Trần Văn Hiên (2008), Bồi dưỡng năng lực tham mưu về công tác đảng, công tác chính trị của đội ngũ cán bộ nghiên cứu cơ quan Tổng cục Chính trị trong giai đoạn hiện nay”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội.
Bài viết liên quan