Hiện nay, nước ta đang đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, do đó nhân lực đã qua đào tạo với kiến thức, kỹ năng, tay nghề, năng lực sáng tạo sẽ là nhân tố trực tiếp áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm vật chất và tinh thần. Trường Cao đẳng nghề là nơi đào tạo người lao động có chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ ở trình độ cao đẳng nhằm cung cấp nguồn nhân lực trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…theo nhu cầu của thị trường lao động và xã hội, trong đó đội ngũ giảng viên trường cao đẳng nghề được coi là khâu then chốt cần phải tiếp tục được nâng cao cả về chất và lượng và mối quan hệ giữa phát triển đội ngũ giảng viên cao đẳng nghề với nhu cầu đào tạo nhân lực là khăng khít, cơ hữu, bổ trợ lẫn nhau.

Mối quan hệ này được làm rõ thông qua các nội dung dưới đây:

1. Mối quan hệ giữa đào tạo với nhu cầu xã hội

– Theo Đại Từ điển tiếng Việt, đào tạo là quá trình tác động đến một người nhằm làm cho người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng nhận một sự phân công lao động nhất định, góp phần vào việc phát triển xã hội, duy trì và phát triển nền văn minh của loài người.
Theo người nghiên cứu: “Đào tạo là tập hợp bao gồm các hoạt động nhằm trang bị cho người học những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo và thái độ nghề nghiệp để họ có thể đảm nhận và hoàn thành công việc được giao.”

Trong thời đại khoa học và công nghệ phát triển, đào tạo đặc biệt đóng vai trò quan trọng để nâng cao năng suất lao đông, phát triển con người, tạo điều kiện để họ tham gia vào đời sống kinh tế xã hội. Thông qua đào tạo, con người liên tục hoàn thiện kiến thức và kỹ năng, đạo đức nghề nghiệp để có thể sống và làm việc có ý nghĩa.

Ngày nay, các quốc gia đều nhận thức được rằng đầu tư cho giáo dục-đào tạo là đầu tư cho phát triển bền vững và đem lại sự tăng trưởng kinh tế lớn. Để có được nhân lực có chất lượng, các tổ chức đều quan tâm vấn đề đào tạo nhằm nâng cao trình độ, kỹ năng người lao động, đáp ứng yêu cầu của tổ chức vì: đào tạo làm tăng năng suất lao động, đào tạo làm tăng chất lượng sản phẩm và đào tạo làm tăng khả năng thích ứng của tổ chức đối với môi trường luôn luôn thay đổi.

Một trong những tiêu chí đánh giá đào tạo có hiệu quả hay không là khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm của người học, đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, của thị trường lao động và nhu cầu học tập suốt đời của người học.

– Nhu cầu xã hội: là tất cả những gì xã hội cần cho sự tồn tại và phát triển. Nhu cầu xã hội về đào tạo chính là những cần thiết mà đào tạo cần đáp ứng để xã hội phát triển. Chủ thể nhu cầu xã hội trong đào tạo bao gồm:

+ Nhà nước: Nhà nước quản lý, định hướng sự phát triển của cả hệ thống xã hội. Nhiệm vụ của đào tạo là góp phần thực hiện thành công các mục tiêu cơ bản của chiến lược phát triển kinh tế xã hội.

+ Cơ sở sử dụng nhân lực: Là nơi người lao động qua đào tạo làm việc và thăng tiến. Nhu cầu của cơ sở sử dụng nhân lực về nhân lực bao gồm: về số lượng, chất lượng của nhân lực theo cơ cấu ngành nghề, cơ cấu trình độ, cơ cấu vùng miền. Việc điều tra khảo sát, phân tích nhu cầu của cơ sở sử dụng nhân lực giúp xác định được mục tiêu, nội dung chương trình, nghề cần đào tạo, số lượng và chất lượng nhân lực cần có để đáp ứng yêu cầu của cơ sở sử dụng nhân lực.

+ Người học: người học vừa là chủ thể cung cấp sức lao động cho sản xuất, vừa là đối tượng trực tiếp của đào tạo, cơ sở đào tạo sẽ không thể hoạt động được nếu không có người học. Nhu cầu của người học về đào tạo là nhu cầu được học để có việc làm, có thu nhập, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần, có vị trí và sự tôn trọng trong xã hội.

– Mối quan hệ giữa đào tạo và nhu cầu xã hội thể hiện ở:

+ Đào tạo với nhu cầu của Nhà nước: đào tạo có nhiệm vụ cung cấp nhân lực để thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Nhà nước; Nhà nước quản lý, điều hành các hoạt động phát triển kinh tế xã hội trong đó có đào tạo nhằm thực hiện chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

-> Để thực hiện thành công công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì vai trò của nhân lực qua đào tạo ngày càng trở nên quan trọng. Nhân lực đã qua đào tạo với kiến thức, kỹ năng, tay nghề, năng lực sáng tạo sẽ là nhân tố trực tiếp áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm vật chất và tinh thần. Vì vậy, đào tạo nhân lực phục vụ cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa trở thành nhiệm vụ ngày càng quan trọng trong bối cảnh hiện nay.

-> Đào tạo với chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình thay đổi tỷ trọng các bộ phận hợp thành của nền kinh tế. Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu nhân lực có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau: dưới tác động của nền kinh tế thị trường, cơ cấu kinh tế là yếu tố khách quan làm thay đổi cơ cấu nhân lực để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế; mặt khác, cơ cấu nhân lực có tác động trở lại cơ cấu kinh tế, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự chuyển dịch của cơ cấu kinh tế. Do đó, để quá trình chuyển dịch kinh tế được nhanh, thuận lợi, cần chuẩn bị đội ngũ nhân lực đã qua đào tạo phù hợp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thể hiện trên các mặt sau:

* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa: thực chất là quá trình chuyển từ nền kinh tế trình độ thấp, chủ yếu dựa vào nông nghiệp, sang nền kinh tế hiện đại, trình độ cao. Cơ cấu ngành nghề thay đổi tác động mạnh mẽ đến việc thay đổi cơ cấu nhân lực và cơ cấu trình độ nhân lực cho phù hợp với nhu cầu sản xuất. Nhân lực lao động ở các lãnh vực có năng suất lao động và giá trị lao động thấp sẽ chuyển sang lĩnh vực có năng suất lao động và giá trị lao động cao.

* Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng: song song với việc phát triển kinh tế đồng đều giữa các vùng để giảm khoảng cách về kinh tế xã hội giữa các vùng, tạo cơ cấu kinh tế cân đối hợp lý giữa thành thị và nông thôn, Nhà nước chủ trương ưu tiên phát triển các vùng kinh tế trọng điểm, khu công nghiệp tập trung, các khu công nghệ cao, khu chế xuất.

* Phát triển mạnh các thành phần kinh tế: đây là điểm khác biệt so với thời kỳ kinh tế tập trung chỉ coi trọng kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể, trong khi kinh tế gia đình, phần kinh tế quan trọng của xã hội lại bị kìm hãm phát triển.

* Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn thể hiện ở việc mở rộng phạm vi phát triển kinh tế ra ngoài biên giới. Việc xuất khẩu lao động và chuyên gia trở thành hiện tượng phổ biến giữa các nước.

+ Đào tạo với cơ sở sử dụng nhân lực: Một mặt thể hiện khả năng đáp ứng của đào tạo đối với nhu cầu nhân lực của cơ sở sử dụng nhân lực. Mặt khác là tác động trở lại của cơ sở sử dụng nhân lực đối với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Mối quan hệ nhân quả giữa đào tạo và sử dụng nhân lực đặt ra yêu cầu cần thiết phải xây dựng mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa hai bên.

+ Đào tạo với người học: trong bối cảnh hội nhập quốc tế và nền kinh tế thị trường, nhu cầu của người học rất đa dạng, học để nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu có việc làm hoặc thay đổi việc làm phù hợp với thị trường lao động, để tăng thu nhập, để thăng tiến và để tự khẳng định mình trong xã hội. Do đó, học suốt đời trở thành xu hướng chung trong nhu cầu của người học và họ có nhiều sự lựa chọn để học. Để đáp ứng nhu cầu của người học nhất thiết phải xây dựng hệ thống đào tạo linh hoạt với nhiều phương thức, phương pháp đa dạng, hợp lý, tạo mọi điều kiện để tất cả mọi người, thậm chí những người thuộc nhóm yếu thế đều có cơ hội tiếp cận.

Tóm lại, đào tạo có vị trí quan trọng trong phát triển nhân lực, đặc biệt là nhân lực trực tiếp tham gia lao động sản xuất và dịch vụ, tạo ra sản phẩm hàng hóa cho xã hội. Một trong những nhiệm vụ hàng đầu hiện nay của đào tạo là phải đáp ứng được nhu cầu của Nhà nước, của cơ sở sử dụng nhân lực và của người học. Nhiệm vụ này đặc biệt có tính cấp bách trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế là phải đào tạo được lực lượng lao động có chất lượng và khả năng cạnh tranh cao.

2. Đào tạo nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế

Khi đề cập đến đào tạo nhân lực trong điều kiện kinh tế thị trường, người ta thường quan tâm đến một số qui luật của kinh tế thị trường là: Qui luật cung-cầu, qui luật cạnh tranh, qui luật giá trị.

Cung – cầu nhân lực qua đào tạo được thể hiện thông qua mối quan hệ giữa đào tạo và sử dụng nhân lực. Nhu cầu về nhân lực là nhu cầu về số lượng, chất lượng và cơ cấu ngành nghề cho những loại công việc trong xã hội, theo yêu cầu của thị trường lao động, những cơ sở sử dụng lao động và nhu cầu của mỗi cá nhân trong cộng đồng. Nhu cầu về nhân lực biến động trong từng thời kỳ dưới tác động của sự phát triển kinh tế xã hội và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của từng vùng, địa phương.

Cung về nhân lực là khả năng cung ứng của hệ thống đào tạo nhân lực cho thị trường lao động và các đơn vị sử dụng lao động về số lượng, cơ cấu và chất lượng lao động. Cung về nhân lực được quyết định bởi nhu cầu đào tạo của cá nhân, phụ thuộc trình độ phát triển của quốc gia, ngân sách nhà nước đối với phát triển đào tạo nhân lực trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và mục tiêu phát triển con người, hệ thống thể chế trong đào tạo nhân lực và trình độ phát triển của nền kinh tế.

Qui luật cung – cầu trong điều kiện kinh tế thị trường đòi hỏi phải gắn đào tạo với nhu cầu lao động trên thị trường lao động. Để thích ứng với kinh tế thị trường, hệ thống giáo dục nghề nghiệp phải thỏa mãn lợi ích của tất cả các bên tham gia thị trường lao động, đồng thời phải đảm bảo tính hiệu quả và sự bình đẳng, công bằng xã hội trong giáo dục. Mọi thông tin về sự thay đổi của cầu lao động về số lượng, chất lượng và cơ cấu lao động trên thị trường lao động đều phải được nhận biết, phân tích, xem xét và điều chỉnh trong đào tạo nhân lực. Đây là sự thay đổi căn bản nhất của giáo dục nghề nghiệp trong nền kinh tế thị trường so với nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung thời bao cấp.

Theo Vũ Ngọc Hải [33], mối quan hệ cung- cầu giữa đào tạo và sử dụng nhân lực được biểu hiện dưới các mức độ sau:

– Mức độ đáp ứng rất thấp: Hệ thống đào tạo nhân lực hoàn toàn không có khả năng đáp ứng được nhu cầu nhân lực cho thị trường lao động. Đào tạo và thị trường lao động hoàn toàn tách biệt nhau;

– Mức độ đáp ứng thấp: Hệ thống đào tạo nhân lực về cơ bản không đáp ứng được nhu cầu nhân lực của thị trường lao động về chất lượng, số lượng và cả về cơ cấu ngành nghề. Nhân tố thị trường lao động hoặc mờ nhạt hoặc không được xuất hiện trong quá trình đào tạo nhân lực;

– Mức độ đáp ứng trung bình: Hệ thống đào tạo nhân lực chỉ có khả năng đáp ứng một phần nhu cầu nhân lực cho thị trường lao động kể cả về số lượng, chất lượng và cả về đáp ứng cho từng vùng, miền;

– Mức độ đáp ứng cao: Về cơ bản hệ thống đào tạo nhân lực gắn với thị trường lao động và phát triển kinh tế xã hội. Nhân lực qua đào tạo cơ bản đáp ứng được về số lượng, chất lượng, cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng, miền, tuy chưa thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu đòi hỏi;

– Mức độ đáp ứng rất cao: Hệ thống đào tạo nhân lực đáp ứng và làm thỏa mãn hoàn toàn nhu cầu của thị trường lao động về cả số lượng, chất lượng, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền và những đòi hỏi khác. Mức này chứng tỏ đào tạo đã đạt tới đỉnh cao là hoàn toàn gắn được với thị trường lao động.

Để đáp ứng nhu cầu thị trường, đào tạo nghề phải tuân theo các quy luật của thị trường, đó là:

– Qui luật cạnh tranh của thị trường lao động thể hiện ở việc ai có khả năng đáp ứng các yêu cầu lao động nghề nghiệp mà người sử dụng lao động đòi hỏi sẽ là người có nhiều cơ hội việc làm trong thị trường lao động. Các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải tuân theo qui luật cạnh tranh để tồn tại và phát triển, tất nhiên sự cạnh tranh phải lành mạnh thông qua việc đào tạo có chất lượng và tạo động lực cho sự phát triển.

– Qui luật giá trị trong thị trường lao động đòi hỏi giáo dục nghề nghiệp phải lấy chất lượng đào tạo là sự sống còn và xem đào tạo là sự gia tăng giá trị của nhân lực để giành lợi thế trong thị trường lao động. Sư linh hoạt và thích ứng của thị trường lao động đòi hỏi giáo dục nghề nghiệp phải thường xuyên điều chỉnh nội dung chương trình đảm bảo tính linh hoạt cao và khả năng thích ứng cao hơn cho người lao động.

– Qui luật cung-cầu, qui luật cạnh tranh và qui luật giá trị trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi phải có mối quan hệ chặt chẽ giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp với cơ sở sử dụng lao động dưới những hình thức đa dạng, phong phú và phù hợp.

Trong bối cảnh hiện nay, thị trường lao động ở nước ta chưa thật sự phát triển, việc làm trong xã hội còn thiếu, doanh nghiệp có nhiều cơ hội tuyển chọn song lại ít trách nhiệm với đào tạo; hệ thống thông tin dự báo, thông tin thị trường lao động hoạt động chưa hiệu quả nên việc định hướng ngành nghề và qui mô đào tạo rất khó khăn. Đây là những thách thức đối với hệ thống giáo dục nghề nghiệp, đòi hỏi những người liên quan đến giáo dục nghề nghiệp phải nhanh chóng đổi mới tư duy đào tạo dưới thời bao cấp sang tư duy kinh tế thị trường.

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay, để đủ sức cạnh tranh chúng ta phải xây dựng được một hệ thống đào tạo chất lượng cao để đào tạo nhân lực các trình độ lao động kỹ thuật, các công nghệ gia, các nhà nghiên cứu đạt chuẩn khu vực, chuẩn quốc tế cho một số ngành, lĩnh vực kinh tế mũi nhọn của đất nước. Đây chính là lực lượng nòng cốt để chúng ta có thể tiếp nhận một cách sáng tạo công nghệ hiện đại, kinh nghiệm về sản xuất và quản lý của các nước đi trước, để đón đầu và chủ động trong quá trình cạnh tranh, hội nhập và chuẩn bị tiền đề cho nền kinh tế tri thức. Chúng ta đang thiếu hụt nghiêm trọng loại hình lao động kỹ thuật này, hệ thống các trường cao đẳng nghề với Đội ngũ giảng viên đạt chuẩn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu đào tạo lao động kỹ thuật chất lượng cao trong điều kiện hội nhập quốc tế.

3. Vai trò của trường cao đẳng nghề, của đội ngũ giảng viên dạy nghề trong đào tạo nhân lực và phát triển kinh tế xã hội của vùng

3.1. Vai trò của trường cao đẳng nghề trong đào tạo nhân lực và phát triển kinh tế xã hội của vùng

Toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là xu thế phát triển khách quan trong đó vừa diễn ra quá trình hợp tác để phát triển đồng thời vừa là quá trình cạnh tranh gay gắt giữa các nước. Hầu như mọi quốc gia trên thế giới đều coi nhân tố con người, nguồn lực con người hay nguồn nhân lực là yếu tố cơ bản, có vai trò quyết định nhất đến sự phát triển nhanh và bền vững của một quốc gia.

Mục tiêu chung phát triển nguồn nhân lực là nâng cao kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp và phát triển toàn diện của con người Việt Nam về chính trị, trí tuệ, đạo đức, ý chí và thể lực; hình thành đội ngũ lao động có cơ cấu trình độ, ngành nghề và khu vực lãnh thổ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng. Đặc biệt chú trọng đến bộ phận nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực quản lý, khoa học-công nghệ, giáo dục đào tạo và các ngành kinh tế quốc dân, tạo được năng suất và đem lại giá trị gia tăng cao trong nền kinh tế quốc dân. Vì vậy, vai trò của giáo dục nghề nghiệp trong sự phát triển kinh tế xã hội là rất quan trọng. Với mục tiêu dạy nghề trình độ cao đẳng, trường Cao đẳng nghề có vai trò đào tạo lao động kỹ thuật trình độ cao, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, vùng và cả nước.
– Sứ mệnh của trường Cao đẳng nghề

Trường Cao đẳng nghề là nơi cung cấp cho người học các chương trình đào tạo chất lượng cao về kinh tế, kỹ thuật và dịch vụ, đồng thời nghiên cứu ứng dụng và triển khai các tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ vào hoạt động giảng dạy và đời sống, tham gia bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dạy nghề và bồi dưỡng kỹ năng nghề cho Đội ngũ giảng viên, góp phần phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

– Chức năng của trường Cao đẳng nghề

Trường Cao đẳng nghề có chức năng đào tạo người lao động có chuyên môn kỹ thuật nghiệp vụ ở trình độ cao đẳng nhằm cung cấp nguồn nhân lực trực tiếp tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ…theo nhu cầu của thị trường lao động.

Nhằm đẩy mạnh năng suất lao động thì hệ thống giáo dục nghề nghiệp phải tăng cường đào tạo người lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao mới có thể đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội cho từng vùng, từng địa phương và trên phạm vi toàn quốc.

– Nhiệm vụ của trường Cao đẳng nghề

Theo nhiệm vụ của trường Cao đẳng nghề là:

1. Tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ Cao đẳng nghề, Trung cấp nghề và Sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động.

2. Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo.

3. Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề.

4. Tổ chức các hoạt động dạy và học; thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

5. Tuyển dụng, quản lý đội ngũ giảng viên, cán bộ, nhân viên trường đủ về số lượng; phù hợp với ngành nghề, quy mô và trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật.

6. Tổ chức nghiên cứu khoa học; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; thực hiện sản xuất, kinh doanh và dịch vụ khoa học – kỹ thuật theo quy định của pháp luật.

7. Tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễn phí cho người học nghề.

8. Tổ chức cho người học nghề tham quan, thực tập tại doanh nghiệp.

9. Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề.

10. Tổ chức cho giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học nghề tham gia các hoạt động xã hội.

11. Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy nghề, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào dạy nghề và hoạt động tài chính.

12. Đưa nội dung giảng dạy về ngôn ngữ, phong tục tập quán, pháp luật có liên quan của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật có liên quan của Việt Nam vào chương trình dạy nghề khi tổ chức dạy nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.

13. Quản lý, sử dụng đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính của trường theo quy định của pháp luật.

14. Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định.

15. Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.

Theo chúng tôi:

Hệ thống giáo dục cao đẳng, đại học của nước ta thiên về kinh điển (académic), nặng về lý thuyết. Một thị trường lớn mà giáo dục cao đẳng, đại học ta cần hướng tới là đào tạo nguồn nhân lực có trình độ khoa học – kỹ thuật, tay nghề cao, đáp ứng nhu cầu các nhà máy sản xuất lớn, các công ty nước ngoài, đồng thời trong nước cũng đang phát triển loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sử dụng công nghệ tiên tiến, những đơn vị này đang rất cần có lực lượng trẻ, khỏe, có trình độ chuyên môn, Kỹ năng nghề thành thạo…Trường Cao đẳng nghề được xây dựng và phát triển với đặc thù là cơ sở vật chất trang thiết bị dạy nghề hiện đại và đội ngũ Giáo viên dạy nghề có kiến thức chuyên môn, Kỹ năng nghề thành thạo, đã và sẽ góp phần đào tạo nguồn nhân lực có năng lực thực hành, trình độ kỹ thuật cao đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội của địa phương, vùng.

3.2. Vai trò của đội ngũ giảng viên dạy nghề trong đào tạo nhân lực và phát triển kinh tế xã hội của vùng

Vai trò của đội ngũ giáo viên/giảng viên đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã được Đảng và Nhà nước ta đánh giá cao và khẳng định qua các văn bản, nghị quyết, thông tư, chỉ thị trong từng giai đoạn gắn với sự phát triển kinh tế xã hội của cả nước, vùng. Cụ thể:

– Luật Giáo dục đã xác định rõ vai trò của giáo viên: “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục”.

– Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng lần thứ XI nhấn mạnh: “Phát triển đội ngũ giáo viên là khâu then chốt” trong chiến lược “Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo”.

– Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 xác định 8 giải pháp phát triển giáo dục giai đoạn 2011-2020, trong đó giải pháp 1 “Đổi mới quản lý giáo dục” là giải pháp đột phá và giải pháp 2 “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục” là giải pháp then chốt.

– Chiến lược phát triển Dạy nghề thời kỳ 2011-2020 xác định 9 giải pháp phát triển dạy nghề trong đó giải pháp 1 “Đổi mới quản lý Nhà nước về dạy nghề” và giải pháp 2 “Phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên và cán bộ quản lý dạy nghề” là hai giải pháp đột phá.

Đào tạo nghề có vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội của các vùng và cả nước. Với mục tiêu dạy nghề trình độ cao đẳng, trường Cao đẳng nghề có nhiệm vụ đào tạo lao động kỹ thuật trình độ cao, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội của địa phương, vùng và cả nước. Nhiệm vụ này đặc biệt có tính cấp bách trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay.

Các yếu tố quan trọng tác động trực tiếp đến chất lượng đào tạo nhân lực ở các trường Cao đẳng nghề gồm: Đội ngũ Giáo viên dạy nghề; chương trình đào tạo nghề; nguồn lực vật chất (cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề) và nguồn lực tài chính. Trong các yếu tố trên thì đội ngũ Giáo viên dạy nghề giữ vai trò vô cùng quan trọng, là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo và phát triển nhân lực. Đội ngũ Giáo viên dạy nghề có trình độ Kỹ năng nghề thành thạo và trang thiết bị dạy nghề hiện đại phục vụ rèn luyện tay nghề cho HSSV là nét đặc thù không thể thiếu ở trường Cao đẳng nghề.

Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020 xác định mục tiêu tổng quát là đưa nhân lực Việt Nam trở thành nền tảng và lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất để phát triển bền vững đất nước, hội nhập quốc tế và ổn định xã hội, nâng trình độ năng lực cạnh tranh của nhân lực nước ta lên mức tương đương các nước tiên tiến trong khu vực, trong đó một số mặt tiếp cận trình độ các nước phát triển trên thế giới. Chiến lược cũng khẳng định vai trò của đội ngũ giáo viên trong đào tạo nhân lực và phát triển kinh tế xã hội của vùng và cả nước, cụ thể:

– Chiến lược xác định một trong 3 mục tiêu cụ thể là: “ Xây dựng được đội ngũ giáo viên có chất lượng cao để đào tạo nhân lực có trình độ cho đất nước”.

– Chiến lược xác định phương hướng phát triển nhân lực đến 2020 theo bậc đào tạo; các ngành, lĩnh vực; theo một số chủ thể tham gia phát triển trong đó có đội ngũ giáo viên, giảng viên dạy nghề; và phát triển nhân lực 6 vùng kinh tế- xã hội trong cả nước.

Tóm lại, đội ngũ giảng viên dạy nghề có vai trò là chủ thể tham gia phát triển nhân lực, là nhân tố quyết định chất lượng đào tạo nhân lực và phát triển kinh tế xã hội của vùng và cả nước, do đó phát triển đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng nghề theo chuẩn sẽ góp phần đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực và phát triển kinh tế xã hội của vùng và cả nước, thực hiện được mục tiêu của Chiến lược phát triển nhân lực Việt Nam thời kỳ 2011-2020.

Bài viết liên quan